Thanh toán quốc tế - Đề tài: Swift

doc 39 trang nguyendu 40753
Bạn đang xem 20 trang mẫu của tài liệu "Thanh toán quốc tế - Đề tài: Swift", để tải tài liệu gốc về máy bạn click vào nút DOWNLOAD ở trên

Tài liệu đính kèm:

  • docthanh_toan_quoc_te_de_tai_swift.doc

Nội dung text: Thanh toán quốc tế - Đề tài: Swift

  1. ĐỀ TÀI: SWIFT
  2. LỜI MỞ ĐẦU  Trong những năm gần đây, hội nhập kinh tế quốc tế là một trong những mục tiêu hàng đầu trong định hướng nhằm phát triển nền kinh tế quốc gia, đặc biệt là ở các nước đang phát triển. Theo xu hướng toàn cầu hóa, vượt qua không gian và thời gian, những luồng chu chuyển hàng hóa, dịch vụ và tiền tệ đã tạo ra sự gắn kết bền vững giữa những nước có trình độ kinh tế khác nhau và ngày càng trở nên phong phú, đa dạng kéo theo sự phức tạp ngày càng lớn trong mắt xích cuối cùng của quá trình trao đổi là hoạt động thanh toán quốc tế. Là một trong những lĩnh vực hoạt động kinh doanh của Ngân hàng thương mại, thanh toán quốc tế ra đời và phát triển không ngừng như là một tất yếu khách quan. Thanh toán quốc tế là một dịch vụ ngày càng trở nên quan trọng đối với các ngân hàng thương mại, đồng thời hỗ trợ và đẩy mạnh hoạt động kinh doanh xuất nhập khẩu và đầu tư nước ngoài. Các phương thức thanh toán chủ yếu hiện nay trong thanh toán quốc tế như phương thức ứng trước, phương thức ghi sổ, phương thức chuyển tiền, phương thức nhờ thu và phương thức tín dụng chứng từ. Để thực hiện các phương thức thanh toán này các ngân hàng sử dụng một số phầm mềm hệ thống thông tin như SWIFT- hệ thống viễn thông tài chính liên ngân hàng toàn cầu. Vậy hệ thống này hoạt động như thế nào, được ứng dụng trong phương thức thanh toán nào? Bài tiểu luận của chúng tôi với đề tài “ SWIFT ” sẽ lần lượt làm rõ vấn đề này. Với đề tài nghiên cứu này, rất mong nhận được sự góp ý, trao đổi của thầy và các bạn để đề tài được hoàn thiện hơn.
  3. MỤC LỤC 1. GIỚI THIỆU SƠ LƯỢC VỀ HỆ THỐNG THANH TOÁN SWIFT: 5 1.1. Đặc điểm của SWIFT: 5 1.2. Địa chỉ SWIFT: 5 1.3. Đối tượng sử dụng: 6 1.4. Dịch vụ SWIFT: 7 2. SƠ ĐỒ, TỔ CHỨC CỦA SWIFT: 7 3. CÁCH THỨC HOẠT ĐỘNG CỦA SWIFT: 7 4. ĐIỆN SWIFT: 9 4.1 Cấu trúc mẫu điện SWIFT: 9 4.2. Phân loại điện SWIFT: 10 5. CÁC KÝ HIỆU TRONG MẪU ĐIỆN SWIFT: 11 6. SỬ DỤNG ĐIỆN SWIFT TRONG CÁC PHƯƠNG THỨC THANH TOÁN QUỐC TẾ TẠI NGÂN HÀNG: 12 6.1. Phương thức chuyển tiền: 12 6.2. Phương thức nhờ thu: 20 6.3 Phương thức tín dụng chứng từ: 23 6.4 Các điện swift dùng trong tra soát: 35 7. NHẬN XÉT VỀ HỆ THỐNG THANH TOÁN SWIFT: 35 7.1. Những điểm mạnh: 35 7.2. Những điểm yếu: 36 TÀI LIỆU THAM KHẢO 38
  4. Bảng viết tắt: NH Ngân hàng TTQT Thanh toán quốc tế TTCK Thị trường chứng khoán
  5. 1. GIỚI THIỆU SƠ LƯỢC VỀ HỆ THỐNG THANH TOÁN SWIFT: SWIFT trong tiếng Anh viết tắt cho, Society for Worldwide Interbank Financial Telecommunication, trong tiếng Việt có nghĩa là Hiệp hội Viễn thông Tài chính Liên ngân hàng Toàn thế giới. SWIFT cung cấp các dịch vụ truyền thông an ninh và phần mềm giao diện cho các cơ quan chuyên bán buôn tài chính. SWIFT được thành lập năm 1973 và đi vào hoạt động chính thức từ cuối năm 1977, trụ sở chính đặt tại thủ đô Bruxelles của nước Bỉ. 1.1. Đặc điểm của SWIFT: - Đây là một hiệp hội mà thành viên là các ngân hàng và các tổ chức tài chính, mỗi ngân hàng tham gia là một cổ đông của SWIFT. Phương châm hoạt động của hiệp hội là phục vụ các ngân hàng chứ không phải lợi nhuận. - SWIFT là hiệp hội của các Ngân hàng với mạng lưới viễn thông an toàn, tiết kiệm và hiệu quả cao, quy mô hoạt động trên toàn thế giới. Đến nay đã có gần trên 150 thành viên quốc gia với hơn 4000 ngân hàng thành viên góp cổ phần, (không kể các thành viên phụ). - SWIFT là tổ chức hoạt động không vì lợi ích tự thân, cung cấp cho các Ngân hàng thành viên một mạng riêng để chuyển giao dữ liệu trên phạm vi toàn cầu, xử lý các giao dịch liên Ngân hàng quốc tế với các đặc điểm cơ bản: tiêu chuẩn (Standard), an toàn (Security), trách nhiệm tài chính (Finacial Liablity), hợp tác (Cooperation). - Khi nói đến SWIFT, thường hay nhắc đến việc tiêu chuẩn hoá. SWIFT sử dụng các tiêu chuẩn quốc tế (International Standard Organization - ISO), ngược lại, ISO cũng cố gắng sắp xếp định dạng các bức điện trong thanh toán liên ngân hàng phù hợp với các khuôn mẫu do SWIFT đã đưa ra. Tất nhiên, các tiêu chuẩn của SWIFT cũng có quan hệ rất chặt chẽ với các quy chế của phòng Thương mại quốc tế Paris. 1.2. Địa chỉ SWIFT: Khi tham gia vào hệ thống SWIFT, mỗi ngân hàng cần phải có một địa chỉ SWIFT cụ thể hay gọi là BIC (Bank identifier Code). Thông qua địa chỉ này mà các ngân hàng có thể trao đổi nghiệp vụ thanh toán quốc tế và các dịch vụ khác do SWIFT cung cấp. Địa chỉ BIC có hai loại, loại 8 ký tự dùng cho các ngân hàng độc lập và loại 11 ký tự dùng cho các chi nhánh. Ngoài ra không có loại nào khác. Kết cấu 2 loại như sau: - Loại 8 ký tự: + 4 ký tự đầu nhận diện ngân hàng + 2 ký tự kế nhận diện quốc gia + 2 ký tự nhận diện địa phương XXXX XX XX Bank Country Area Code Code Code Ví dụ: Deutsche Bank là một ngân hàng quốc tế có tổng hành dinh ở thành phố Frankfurt, nước Đức. Mã SWIFT cho chi nhánh chính của ngân hàng này là: DEUTDEFF. + DEUT nhận diện Deutsche Bank. + DE là mã nhận diện nước Đức, Deutschland trong tiếng Đức. + FF là mã nhận diện thành phố Frankfurt. - Loại 11 ký tự: là địa chỉ SWIFT thường được dành cho các chi nhánh giống như loại 8 ký tự nhưng có thêm ba ký tự phía sau để phân biệt chi nhánh: + 4 ký tự đầu nhận diện ngân hàng
  6. + 2 ký tự kế nhận diện quốc gia + 2 ký tự nhận diện địa phương + 3 ký tự chót nếu có thì nhận diện chi nhánh. Nếu là chi nhánh chính thì 3 ký tự chót là “XXX”. XXXX XX XX XXX Bank Country Area Branch Code Code Code Code Ví dụ: Ngân hàng Ngoại thương Việt Nam Bank for Foreign Trade of Vietnam (Vietcombank) chi nhánh thành phố Hồ Chí Minh. Mã SWIFT cho chi nhánh này của Vietcombank là: BFTVVNVX007. + BFTV nhận diện Bank for Foreign Trade of Vietnam. + VN là mã nhận diện nước Việt Nam. + VX là mã nhận diện bất cứ thành phố nào ở Việt Nam. + 007 là mã nhận diện chi nhánh Tp. Hồ Chí Minh. Sự hiện diện của 0 (zero) ở vị trí 8 chỉ ra rằng đây là một địa chỉ thử nghiệm và đào tạo. Kiểm tra và Đào tạo là một cơ sở mà SWIFT cho phép người sử dụng thử nghiệm phiên bản mới mà không cần can thiệp với những hoạt động của hệ thống. Khi một tổ chức đầu tiên gia nhập SWIFT họ phải dành hai tháng gửi tin nhắn trong thử nghiệm và đào tạo trước khi họ được phép đi vào hoạt động. 1.3. Đối tượng sử dụng: Mặc dù ban đầu được thiết kế mạng để hỗ trợ các yêu cầu của Kho bạc và hoạt động ngân hàng tín viên, qua nhiều năm nó cho phép các tổ chức khác được phép truy cập vào các dịch vụ, mặc dù trong một số trường hợp chỉ đến một mức độ hạn chế. Hiện nay các loại tổ chức sau đây có thể truy cập vào các dịch vụ: - Ngân hàng. - Tổ chức Thương mại. - Những nguời môi giới vay tiền. - Đại lý môi giới chứng khoán. - Tổ chức quản lý đầu tư. - Hệ thống thanh toán bù trừ và trung tâm lưu kí. - Cơ quan hối đoái được công nhận. - Công ty Dịch vụ ủy thác và tín nhiệm. - Đơn vị thành viên lưu ký và các nhà cung cấp của ứng cử viên. - Những đối tác của Kho bạc. - Nhà cung cấp Dịch vụ ETC Kho bạc Hiệp hội được sở hữu bởi các thành viên, để trở thành một trong các tổ chức phải có Giấy phép ngân hàng. Trong thành viên kể trên làm chủ cổ phần của mình trong tổ chức và có quyền biểu quyết. Có hơn hai loại người sử dụng. Các thành viên phụ phải được sở hữu trên 90% của thành viên và thường các chi nhánh. Họ có thể truy cập vào hệ thống, nhưng họ không có quyền biểu quyết hoặc cổ phần. Những người tham gia thường là các loại tổ chức tài chính, và họ có quyền truy cập vào một tập hạn chế các tin nhắn và không có quyền sở hữu Tất cả các thành viên nộp lệ phí gia nhập ban đầu và hỗ trợ một khoản phí hàng năm,với số tiền khác nhau cho mỗi loại. Ngoài ra phí sử dụng được tính trên mỗi tin nhắn bằng đơn vị chiều dài của 325 hoặc 1950 ký tự phụ thuộc vào loại tin nhắn. Những chi phí cũng khác nhau tùy vào lượng và lộ trình, số tiền giảm cho người sử dụng khối lượng lớn và những tin nhắn qua dọc theo tuyến đường thông thường nhất như: Anh đến Mỹ.
  7. Giá cả được tính toán để trang trải tất cả các chi phí và các khoản đầu tư của SWIFT với những người dùng sau đó nhận được giảm giá thường xuyên sau khi chúng được hoàn thành. 1.4. Dịch vụ SWIFT: SWIFT cung cấp một số dịch vụ chủ yếu như: - GPA(General Purpose Application): chỉ cho tin nhắn hệ thống, tin từ người dùng tới SWIFT và ngược lại, ko phải giữa các người dùng với nhau. - FIN Financial Application, cho người dùng với nhau, tin hệ thống MT0nn, tin người dùng tới người dùng MT1nn đến 9nn và tin dịch vụ. Và một số dịch vụ khác, tính phí cao hơn bình thường: - IFT (Interbank File Transfer): Gửi tin SLL, giá trị thấp, những khối lượng thanh toán lẻ lớn. - RTGS (Y-copy): Chủ yếu được sử dụng để gửi bản sao tin nhắn hoặc bộ phận của chúng cho một bên thứ ba, ví dụ như một Ngân hàng Trung ương. 2. SƠ ĐỒ, TỔ CHỨC CỦA SWIFT: SWIFT có văn phòng trên toàn thế giới, trụ sở chính nằm tại Belgium, Brussels, Bỉ. SWIFT có 3 trung tâm lớn: Châu Mĩ, Châu Á Thái Bình Dương và EMEA. Mỗi trung tâm khu vực được trao quyền tự điều khiển, 3 khu vực này củng cố vững chắc mạng lưới SWIFT. Văn phòng đại diện của SWIFT: -Ở khu vực Châu Mỹ: Brazil, USA – NewYork, USA – SanFrancisco -Ở khu vực Châu Á - Thái Bình Dương: Australia, HongKong, India, Janpan, Beijing, Seoul, Singapore, ShangHai, - Khu vực EMEA: Austria (Áo), France, HQ & Belgium Headquarters, Germany, Italia, South Africa, Spain, Sweden, Switzerland, United Arab Emirates, United Kingdom. Mạng lưới thư tín bảo mật SWIFT được vận hành từ ba trung tâm dữ liệu dự phòng ở Mĩ, Hà Lan và Thụy Sĩ. Các trung tâm này chia sẻ thông tin gần như là trong thời gian thực. Trong trường hợp một trung tâm xử lí thông tin thất bại, trung tâm còn lại có thể xử lí toàn bộ giao dịch của mạng. SWIFT cung cấp một chế độ lưu trữ tập trung và chuyển tiếp. Ngân hàng A gửi tin nhắn đến ngân hang B với một bản sao hoặc ủy quyền với tổ chức C, nó định dạng tin nhắn theo tiêu chuẩn, và an toàn gửi nó đến SWIFT. SWIFT giao hàng của mình cho B một cách an toàn và đáng tin cậy sau hành động thích hợp của C, sự đảm bảo của SWIFT được dựa chủ yếu vào phần cứng, phần mềm, và con người. SWIFT đã trở thành chuẩn công nghiệp cho cú pháp trong các thư tài chính. Thông điệp được định dạng theo tiêu chuẩn SWIFT có thể đọc được. WIFT hợp tác với các tổ chức quốc tế để xác định các tiêu chuẩn cho các định dạng thông điệp và nội dung. 3. CÁCH THỨC HOẠT ĐỘNG CỦA SWIFT: Mạng SWIFT có 1 cấu trúc hỗ trợ các yêu cầu họat động an toàn 24x7. Có vài yếu tố cho mạng X25 này. Bộ xử lý điều khiển hệ thống được đặt ở 2 trung tâm là Mỹ và Nauy, nó chịu trách nhiệm mọi họat động của toàn hệ thống, bao gồm: - Quản lý phiên. - Phân phối dữ liệu phần mềm. - Giám sát mọi phần cứng và mềm của SWIFT. - Chẩn đoán và phục hồi các lỗi, thất bại. - Chỉ định động lực của các nguồn hệ thống.
  8. Bộ xử lý nhỏ chịu trách nhiệm cho: - Lộ trình và lưu trữ an toàn các tin nhắn và lịch sử tin nhắn. - Lưu trữ an toàn Giấy báo đến các bộ xử lý địa phương. - Tạo hình báo cáo. - Các tin nhắn gửi và ko gửi. - Xử lý tin nhắn hệ thống và tin nhắn thu hồi. - Lưu trữ, xuất hóa đơn và số liệu. Lưu 2 chỗ Bộ xử lý địa phương là cổng vào và cổng ra của SWIFT, và chúng có thể sử dụng kết nối đường Leased, Dial-up, hoặc Mạng dữ liệu cộng đồng. Phổ biến nhấn là đường Leased riêng có dial-up làm dự phòng. Chúng thường ở cùng 1 nước, và cung cấp sự xác nhận hợp lệ cho tin nhắn và kiểm tra các chuỗi số, kho lưu trữ tạm thời. Máy tính trạm CBT như là giao diện của SWIFT ở mỗi vị trí của người dùng. Máy tính này hỗ trợ kết nối đến bộ xử lý địa phương và giúp việc nhập tin nhắn bằng tay cũng như cầu nối đến ứng dụng ban đầu được thuận tiện hơn. Có nhiều loại giao diện khác thế này, nhưng SWIFT lại có thị phần lớn nhất. Danh sách dưới đây là 1 vài cái phổ biến hơn: Vendors CBT SWIFT Alliance Access (NT and Unix) SWIFT Alliance Entry (NT) SWIFT ST400 (VMS) IBM Merva/ESA (Mainframe) IBM(SWIFT) Merva/2 (OS/2) IBM(SWIFT) Merva/AIX (AIX) Logica Fastwire (Unix) Logica Bess (Tandem) Mint Mint Netik TurboSWIFT (NT and Unix) Biểu đồ dưới đây mô tả cấu trúc mức độ cao:
  9. Như nói ở trên, xâm nhập vào mạng lưới qua công nghệ CBT và Thẻ thông minh được sử dụng vì chức năng an toàn. Nhiều chức năng yêu cầu nhập kép tên người dùng và mật mã. Người dùng đăng nhập vào dịch vụ GPA và nhận 1 giấy báo GPA. Người dùng chọn ứng dụng hoặc dịch vụ muốn sử dụng, VD FIN. Rồi có thể gửi tin nhắn FIN tới người dùng khác, và bộ xử lý địa phương sẽ gửi về giấy báo đã gửi hoặc ko gửi được cho mỗi tin nhắn sau khi đã lưu trữ lại. Phiên họat động vẫn giữ mở cho gửi và nhận tin nhắn tới khi người dùng thóat ra. Dịch vụ FIN sẽ báo việc này trước khi chọn đăng xuất. 4. ĐIỆN SWIFT: 4.1 Cấu trúc mẫu điện SWIFT: Cấu trúc của một mẫu điện SWIFT sẽ gồm 3 phần như sau: - Phần đầu điện ( header) chứa các thông tin sau: + Loại điện giao dịch. + Ngân hàng gửi và ngân hàng nhận điện. + Giờ gửi và giờ nhận điện. + Xác nhận tình trạng điện. + Tham chiếu điện gửi và điện nhận. - Phần nội dung điện (Text): phần này chứa đựng nội dung giao dịch, nó bao gồm các trường với các khuôn dạng và các tiêu chuẩn được quy định bởi tổ chức SWIFT. - Phần kiểm tra khóa SWIFT: phần này chỉ ra kết quả kiểm tra mã SWIFT tại sở giao dịch và ngân hàng đại lý. Một số tiêu chuẩn điện SWIFT phổ biến : - Tiểu chuẩn điện SWIFT dùng trong phương thức chuyển tiền + Mẫu điện 100: chuyển tiền phục vụ khách hàng. MT 100 là điện chuyển tiền cho người hưởng cuối cùng không phải là một tổ chức tài chính hoặc ngân hàng. Ví dụ: Theo lệnh của khách hàng A, VCB sử dụng MT 100 để chuyển tiền đến TK của người hưởng là Công ty B hay ông B tại ngân hàng ANZ. Hiện nay người ta sử dụng MT 103 thay cho MT 100. + Mẫu điện 103: chuyển tiền phục vụ khách hàng.
  10. + Mẫu điện 200: mẫu điện điều vốn. MT 200 được sử dụng để chuyển tiền giữa hai tài khoản của ngân hàng hưởng lợi mở tại hai ngân hàng khác. + Mẫu điện 202: chuyển tiền giữa các ngân hàng. MT 202 là điện chuyển tiền cho người hưởng là tổ chức tài chính hoặc ngân hàng. Ví dụ: Ngân hàng phát hành L/C là VCB thực hiện hoàn trả tiền cho ngân hàng chiết khấu HSBC Hong Kong có tài khoản tại Citibank NY. - Tiêu chuẩn điện SWIFT dùng trong phương thức L/C: + Mẫu điện 700: Phát hành thư tín dụng. + Mẫu điện 707: Sửa đổi một thư tín dụng. + Mẫu điện 742: Đòi hỏi trả theo thư tín dụng. - Tiêu chuẩn điện SWIFT dùng trong phương thức nhờ thu. + Mẫu điện 400: Thông báo thanh toán nhờ thu - Ngoài ra còn một số mẫu điện khác 4.2. Phân loại điện SWIFT: Mẫu điện SWIFT luôn có qui định thống nhất và tất cả các mẫu điện được phân chia thành 10 nhóm điện, mỗi nhóm điện được sử dụng cho một phương thức thanh toán quốc tế hoặc một loại giao dịch ngân hàng quốc tế. Tất cả đều bắt đầu bằng MT(Message type), sau đó là 3 con số: - Số đầu là hạng, loại, nó biểu hiện các tin nhắn được nhóm lại vì chúng có liện hệ tới các dịch vụ và công cụ tài chính riêng nào đó. + MT0nn: MT hệ thống (System Messages). + MT1nn: MT thanh toán khách hàng (Customer Payments). + MT2nn: MT định chế tài chính (Financial Institution Transfers). + MT3nn: MT ngoại hối, thị trường tiền và phái sinh (FX, Money Market & Derivatives. + MT4nn: MT thư tiền mặt và thu gom (Collections and cash letters). + MT5nn: MT TTCK (Securities Markets). + MT6nn: Kim loại quý (Precious Metals & Syndications). + MT7nn: Bảo đảm và tín dụng chứng từ (Documentary Credits & Guarantees) + MT8nn: Séc du lịch (Travellers Cheques). + MT9nn: Quản lý tiền mặt và thông tin khách hàng (Cash Management & Customer Status). - Số thứ hai thể hiện Nhóm mà mẫu điện đó liên hệ tới. Ví dụ: + MT200: Chuyển tiền định chế tài chính, tài khoản tự có (Financial Institution Transfer, Own Account). + MT202 Chuyển tiền định chế tài chính, bên thứ 3 (Financial Institution Transfer, Third Party). + MT521 Nhận chứng khoán cho thanh toán (Receive (Securities) Against Payment) + MT523 Gửi chứng khoán cho thanh toán (Deliver (Securities) Against Payment) Chữ số cuối là Loại, thể hiện tin nhắn độc lập. Có tổng cộng vài trăm loại mẫu điện theo các mục. 1 tập hợp con đặc biệt của Tin nhắn được biết như là 1 Nhóm phổ biển vì 2 chữ số cuối biểu hiện cho cùng tin nhắn trong 1 hạng mục. Ví dụ: MTn99: Định dạng free (Free format). + MT299: Định dạng free liên quan chuyển tiền (Free format relating to transfers).
  11. + MT599: Định dạng free liên quan chứng khoán (Free format relating to securities). + MT999: Định dạng free tổng quát (General free format). 1 số loại Nhóm phổ biến khác: - MTn90: Lời khuyên về phí, lãi suất (Advice of charges, interest, ) - MTn91: Yêu cầu thanh toán phí, (Request for Payment of Charges, etc) - MTn92: Yêu cầu hủy (Request for Cancellation) - MTn93: Dịch vụ hạng mục (Directory Services) - MTn95: Chất vấn (Query) - MTn96: Trả lời (Answer) - MTn98: Bìa thư tin nhắn có đăng ký (Proprietary Message Envelope) 5. CÁC KÝ HIỆU TRONG MẪU ĐIỆN SWIFT: M : Bắt buộc ( Mandatory ) O : Tùy chọn ( Optional ) ! : Chiều dài cố định ( fixed length ) * : dòng ( line ) c : A -> Z, 0 -> 9 x : A -> Z, a -> z, 0 -> 9, + - . , ‘ : ( ) / space, enter [ ] : trường phụ có thể ghi hoặc không n : 0 -> 9 a : A -> Z d : 0 -> 9 bao gồm dấu phẩy thập phân VD: 1,99 % : PCT & : AND = : tương đương @ : tại (AT) _ : gạch dưới # : HEX ; : . “ : ‘ ’ \ : / : nhiều hơn - : + (dấu gạch đầu dòng) Ví dụ: Trong mẫu điện 700 Ở trường 31D: Ngày và nơi hết hạn FORMAT Option D 6!n29x (Date) (Place) Ngày tháng được biểu thị với chiều dài cố định là 6 như YYMMDD với các chữ số từ 0 9
  12. Nơi chốn phải được nhập với 29 ký tự có thể là số 0 9, chữ cái có thể viết thường hoặc viết hoa,hoặc “.” , ”,” Ở trường 51A: Option A 4!a2!a2!c[3!c] (BIC) Nghĩa là: Mã SWIFT của ngân hàng bao gồm: 4!a: Đầu tiên là cố định 4 chữ cái in hoa từ A Z 2!a Sau đó là cố định 2 chữ cái in hoa từ A Z 2!c : cố định 2 ký tự có thể là số hoặc chữ cái in hoa [3!c] : cố định 3 ký tự có thể là số hoặc chữ cái in hoa (có thể có hoặc không) 6. SỬ DỤNG ĐIỆN SWIFT TRONG CÁC PHƯƠNG THỨC THANH TOÁN QUỐC TẾ TẠI NGÂN HÀNG: 6.1. Phương thức chuyển tiền: 6.1.1 Khái niệm: Ngày nay với trình độ công nghệ phát triển cao đặc biệt trong lĩnh vực công nghệ thông tin, đã xuất hiện các phương tiện thanh toán mới giúp thực hiện việc chuyển tiền thanh dựa vào công nghệ ngân hàng như Visa card, Master card, dịch vụ chuyển tiền nhanh Western Union tuy nhiên các phương tiện này thường chỉ dùng trong các giao dịch nhỏ lẻ để thanh toán cho chi tiêu cá nhân như: mua sắm, chi trả dịch vụ Bên cạnh đó việc sử dụng các phương tiện này cũng tiềm ẩn rủi ro như: bị đánh cắp hay lộ số PIN, quên số PIN, mất thẻ . Vì vậy, thực hiện thanh toán bằng phương thức chuyển tiền thông qua hệ thống SWIFT vẫn được nhiều người sử dụng đặc biệt trong thanh toán hàng mậu dịch. Trong phương thức chuyển tiền, khách hàng (là người trả tiền) yêu cầu ngân hàng chuyển một số tiền nhất định cho một người hưởng (người thụ hưởng) ở một địa điểm nhất định bằng phương tiện chuyển tiền. Ngân hàng chỉ đóng vai trò trung gian phục vụ theo chỉ dẫn của khách hàng. Trách nhiệm của ngân hàng chuyển tiền là chuyển tiền theo đúng chỉ dẫn của khách hàng. Trách nhiệm của ngân hàng trả tiền là chi trả tiền cho đúng người thụ hưởng theo chỉ dẫn trên lệnh chuyển tiền. Trong phương thức chuyển tiền, các điện chuyển tiền (T/T) thông qua hệ thống SWIFT, Telex hoặc thư chuyển tiền (M/T) được sử dụng như những phương tiện thanh toán, thông qua đó ngân hàng chuyển tiền yêu cầu ngân hàng nhận lệnh chi trả cho người thụ hưởng theo chỉ dẫn thanh toán. Nếu cán bộ của ngân hàng chuyển tiền do sơ suất cung cấp chỉ dẫn sai dẫn đến việc ngân hàng nhận lệnh không thực hiện chi trả cho đúng người thụ hưởng một cách kịp thời thì ngân hàng phải chịu rủi ro bồi thường những thiệt hại về kinh tế và uy tín do người chuyển tiền khiếu nại. Việc chi trả chỉ được thực hiện khi ngân hàng trả tiền nhận được điện chuyển tiền hoặc thư chuyển tiền đảm bảo tính xác thực, với chỉ dẫn chi trả rõ ràng và được báo có cho khoản tiền cần chi trả trên tài khoản của mình. Nếu ngân hàng trả tiền không kiểm tra đầy đủ hai điều kiện trên mà đã tiến hành chi trả thì có thể gặp phải rủi ro mất tiền, do không được báo có nhưng đã tiến hành chi trả cho người thụ hưởng, hoặc chi trả sai người thụ hưởng và không đòi lại được từ người nhận tiền. Để tránh được rủi ro có thể xảy ra, các ngân hàng phải nghiên cứu và sử dụng các phương tiện thanh toán (T/T hoặc M/T) một cách chuẩn xác. Hiện nay, các ngân hàng thường sử dụng điện chuyển tiền để thanh toán vì nó đáp ứng yêu cầu nhanh chóng, chính xác và bảo mật. Điện chuyển tiền có thể bằng SWIFT hoặc Telex, trong đó điện SWIFT được sử dụng phổ biến hơn, chiếm khoảng 90% giao dịch chuyển tiền quốc tế. Điện chuyển tiền bằng SWIFT là những mẫu điện (MT103, MT202 ) đã được chuẩn hoá bởi tổ chức SWIFT với các nội dung điện đã được quy định cụ thể, thống nhất giữa các ngân hàng tham gia hệ thống SWIFT. Do vậy, điện chuyển tiền bằng SWIFT có nội dung chi trả rõ ràng, chính xác hơn và bảo mật hơn các loại điện chuyển tiền hoặc thư chuyển tiền khác. Sau khi tiến hành kiểm tra hồ sơ yêu cầu chuyển tiền kèm theo chỉ dẫn thanh toán (lệnh
  13. chuyển tiền) của khách hàng, Ngân hàng có trách nhiệm chuyển tải và lựa chọn hình thức thực hiện thanh toán, an toàn, nhanh chóng và hiệu quả nhất. Việc sử dụng điện SWIFT là một trong những ưu tiên hàng đầu. Tuy nhiên, phương thức chuyển tiền có 3 sự lựa chọn cho ngân hàng: sử dụng phương pháp trực tiếp, phương pháp gián tiếp hoặc phương pháp chuỗi. Tùy theo sự lựa chọn phương pháp trực tiếp, gián tiếp hay chuỗi mà ngân hàng có thể phối hợp các mẫu điện SWIFT trong thực hiện giao dịch thanh toán. Tùy theo phương pháp sử dụng mà điện chuyển tiền SWIFT MT103 là điện thanh toán hoặc chỉ là điện thông báo việc thanh toán. Sự phân biệt điện thanh toán hoặc điện thông báo này tùy thuộc vào cách sử dụng các trường trong định dạng điện MT103. 6.1.2 Phương pháp trực tiếp: Nếu ngân hàng gửi điện (Sender) và ngân hàng nhận điện (Receiver) – cũng là ngân hàng giữ tài khoản của người thụ hưởng, có quan hệ tài khoản NOSTRO đối với loại tiền tệ được giao dịch thì điện SWIFT MT103 (Single Customer Credit Transfer) sẽ được ngân hàng gửi điện lập và gửi trực tiếp đến ngân hàng nhận điện (ngân hàng giữ tài khoản NOSTRO) để thực hiện lệnh thanh toán theo yêu cầu của người chuyển tiền. Trong trường hợp này điện MT103 là điện thanh toán. Phương pháp trực tiếp được các ngân hàng ưu tiên lựa chọn sử dụng vì: thực hiện thanh toán nhanh do không phải qua ngân hàng trung gian, chi phí chuyển tiền thấp, thuận lợi cho việc giao dịch và tra soát. Tình huống 1: Công ty Tín Nghĩa (TIMEX) ra lệnh cho NH (SWIFT: NHVNVX) trích tài khoản tiền USD tại NH thực hiện thanh toán cho công ty Germany General Electrics có tài khoản 123456789 tại BHF Bank, Frankfurt (SWIFT: BHFBDEFF) EUR50,000.00 thanh toán cho hợp đồng 01/TM-GGE (tỷ giá EUR/USD=2.00), hai khách hàng thỏa thuận chia sẻ phí thanh toán, ngày hiệu lực 05/05/2005. Khi thực hiện lệnh thanh toán trên, NH sẽ tra cứu tài khoản NOSTRO của mình có mở tại ngân hàng BHF Bank, Frankfurt hay không? Nếu có, thực hiện điện chuyển tiền MT103 thanh toán, gửi trực tiếp đến ngân hàng BHF Bank, Frankfurt – ngân hàng giữ tài khoản NOSTRO đồng EUR của NH) với nội dung điện MT103 như sau: Nội dung điện MT103: Explanation Format Sender NHVNVX Message type 103 Receiver BHFBDEFF Sender’s reference :20:6700505050001 Bank operation code :23B:CRED Value date/currency/interbank settled amount :32A:050606EUR50,000.00 Currency/ Instructed amount :33B:USD100,000.00 Exchange rate :36:0.5000 Ordering customer :50K:TIMEX Beneficiary customer :59:/123456789 Germany Genaral Electrics Details of charge :71A:SHA
  14. Sơ đồ 3.1: Sơ đồ thanh toán sử dụng phương pháp trực tiếp Ordering Customer 50A TIMEX Sender NHVXVX MT103 Receiver BHF Bank, Frankfurt (BHFBDEFF) Beneficiary Customer 59A Germany General Electrics 6.1.3 Phương pháp gián tiếp: Nếu ngân hàng gửi điện điện và ngân hàng nhận điện SWIFT MT103 không có quan hệ tài khoản trực tiếp đối với loại tiền tệ được giao dịch, hoặc họ có quan hệ tài khoản nhưng không muốn sử dụng quan hệ tài khoản này thì một ngân hàng thứ ba sẽ xuất hiện trong giao dịch này. Trong trường hợp này, điện MT103 chỉ chứa đựng nội dung thanh toán – đóng vai trò là điện thông báo chuyển tiền đến ngân hàng phục vụ người thụ hưởng, đồng thời ngân hàng gửi điện phải thực hiện một lệnh thanh toán toán chuyển tiền thông qua việc lập một điện thanh toán SWIFT giữa các ngân hàng MT202 (General Financial Institution Transfer) đến một ngân hàng thứ 3 (ngân hàng giữ tài khoản nostro) yêu cầu trích tài khoản của mình thanh toán cho ngân hàng nhận điện MT103. Phương pháp này gọi là phương pháp gián tiếp. Phương pháp gián tiếp đặc biệt hữu dụng cho ngân hàng thực hiện thanh toán khi có một hoặc nhiều món tiền được chuyển từ một hoặc nhiều người khác nhau từ ngân hàng chuyển tiền đến một hoặc nhiều người thụ hưởng tại cùng một ngân hàng thụ hưởng. Phương pháp này giúp ngân hàng giảm chi phí trong giao dịch, vì có thể thực hiện nhiều điện thông báo MT103 (không phải điện thanh toán) đến ngân hàng thụ hưởng với chi tiết từng món thanh toán cụ thể trong khi chỉ cần lập một lệnh chuyển tiền MT202 cho số tiền tổng (bằng tổng các món được chuyển theo điện thông báo MT103), ngân hàng chuyển tiền chỉ chịu phí thanh toán cho một món thanh toán tổng (10->15USD/món) khi thực hiện lệnh chuyển tiền MT202, trong khi nếu thực hiện theo phương pháp thông thường số tiền phí phải trả là bội số của 10 – 15USD/món cho mỗi điện thanh toán MT103. Vì vậy, ngân hàng đã tiết kiệm được một khoản chi phí khá lớn. Phương pháp này được các công ty bản xứ sử dụng rộng rãi trong việc trả lương cho người hợp tác lao động nước ngoài ở cùng một quốc gia, một vùng lãnh thổ . Công ty lập danh sách chi trả lương với đầy đủ chi tiết về số tiền, người thụ hưởng, tài khoản tại ngân hàng (hoặc CMND, passport ) và ngân hàng thụ hưởng yêu cầu ngân hàng phục vụ mình tiến hành việc trả lương theo danh sách. Căn cứ vào danh sách, ngân hàng chuyển tiền sẽ tiến hành lập từng lệnh MT103 cho từng người thụ hưởng riêng biệt và gửi lệnh thông báo thanh toán MT103 trực tiếp đến ngân hàng thụ hưởng, trên các điện MT103 này đều chỉ ra số giao dịch liên quan đến một lệnh chuyển vốn ngân hàng MT202 được ngân hàng lập lệnh MT103 gửi cho ngân hàng giữ tài khoản nostro của mình trích tài khoản của ngân hàng mình trả cho ngân hàng người thụ hưởng bằng tổng số tiền trên các điện MT103.
  15. Với phương pháp này đã tiết giảm chi chí rất nhiều đặc biệt rất hiệu quả trong việc trả lương theo danh sách, hoặc có nhiều lệnh thanh toán cùng được gửi đến một ngân hàng. Tình huống 2: Công ty Tín Nghĩa (TIMEX) ra lệnh cho NH (SWIFT: NHVNVX) trích USD100,000.00 từ tài khoản thanh toán USD của công ty tại NH thực hiện thanh toán cho công ty China General Electrics có tài khoản 0246813579 tại Bank of China, Bejing (SWIFT: BKCHCNBJ). Nội dung thanh toán cho hợp đồng 01/TM-CGE, hai khách hàng thỏa thuận chia sẽ phí thanh toán, ngày hiệu lực 05/05/2005. Bằng các chương trình hỗ trợ tìm kiếm, tra cứu như: Bank Global, Chase Payment Path, hoặc thông qua điều khoản thanh toán trong hợp đồng ngoại thương của hai công ty, ta biết được Bank of China, Bejing (SWIFT: BKCHCNBJ) và NH cùng mở tài khoản NOSTRO tại Citibank, NewYork (SWIFT: CITIUS33), tuy nhiên NH lại muốn sử dụng tài khoản thanh toán NOSTRO của mình tại Bank of NewYork, NewYork (SWIFT: IRVTUS3N) để thực hiện việc thanh toán. Vì vậy, cơ chế thanh toán được thực hiện như sau: Bước 1: NH sẽ lập điện thông báo MT103 trực tiếp đến Ngân hàng phục vụ người thụ hưởng China General Electrics là ngân hàng Bank of China, Bejing thông báo chi tiết nội dung và số tiền mà người chuyển tiền TIMEX đã thực chuyển. Bước 2: Đồng thời NH lập điện thanh toán MT202 (lệnh chuyển vốn thanh toán giữa các ngân hàng) ra lệnh cho ngân hàng Bank of NewYork, NewYork (SWIFT: IRVTUS3N) trích tài khoản nostro của NH chuyển vào tài khoản của Ngân hàng giữ tài khoản Citibank, NewYork (SWIFT: CITIUS33) của ngân hàng thụ hưởng Bank of China, Bejing (SWIFT: BKCHCNBJ) thông qua các hệ thống thanh toán đồng USD (xem phụ lục 3). Bước 3: Khi nhận được lệnh thanh toán từ Bank of NewYork, NewYork (SWIFT: IRVTUS3N) ghi có vào tài khoản của mình theo lệnh của NH, ngân hàng Citibank, NewYork (SWIFT: CITIUS33) thực hiện báo có bằng điện SWIFT MT910/950 cho ngân hàng thụ hưởng Bank of China, Bejing (SWIFT: BKCHCNBJ). Bước 4: Ngân hàng Bank of China, Bejing (SWIFT: BKCHCNBJ) thực hiện đối chiếu điện thông báo thanh toán MT103 nhận được từ NH và điện báo có từ Citibank, NewYork (SWIFT: CITIUS33) nếu đúng số tham chiếu thì thực hiện báo có cho khách hàng thụ hưởng China General Electrics theo số tiền thực tế trên điện báo có từ Citibank, NewYork. Lưu ý, ngân hàng nhận điện thông báo thanh toán MT103 chỉ thực hiện thanh toán báo có cho người thụ hưởng khi nhận được điện báo có MT910/950 hoặc điện thanh toán MT202.
  16. Sơ đồ 3.2: Sơ đồ thanh toán sử dụng phương pháp gián tiếp: Ordering Customer TIMEX Sender NHVNVX MT202 Sender’s Correspondent Bank of NewYork, NewYork (IRVTUS3N) MT103 Receiver’s Citibank, NewYork Correspondent (CITIUS33) MT910/950 Receiver Bank of China, Bejing (BKCHCNBJ) Beneficiary Customer China General Electrics Mối liên hệ giữa các trường MT103 và MT202 MT103 MT202 S S RR 20 20 23B 21 32A 32A 50A 57A 53A 58A 54A 59A 70A
  17. 6.1.4 Phương pháp chuỗi: Khi có nhiều hơn 2 ngân hàng liên quan đến dây chuyền thanh toán, nếu điện MT103 được gửi từ một ngân hàng đến một ngân hàng khác trong dây chuyền thanh toán. Phương pháp thanh toán này gọi phương pháp chuỗi. Thông thường sử dụng phương pháp này khi việc thanh toán được thực hiện qua các ngân hàng trung gian giữ tài khoản của của ngân hàng gửi điện và ngân hàng trung gian của ngân hàng giữ tài khoản của người thụ hưởng. Tình huống 3: Công ty Tín Nghĩa (TIMEX) ra lệnh cho NH (SWIFT: NHVNVX) trích USD100,000.00 từ tài khoản thanh toán USD tại NH thực hiện thanh toán cho công ty China General Electrics có tài khoản 0246813579 tại Bank of China, Bejing (SWIFT: BKCHCNBJ). Nội dung thanh toán cho hợp đồng 01/TM- CGE, hai khách hàng thoả thuận chia sẽ phí thanh toán, ngày hiệu lực 05/05/2005. Bằng các chương trình hỗ trợ tìm kiếm tra cứu như: Bank Global, Chase Payment Path, hoặc thông qua điều khoản thanh toán trong hợp đồng ngoại thương của các công ty, ta biết được NH và Bank of China, Bejing (SWIFT: BKCHCNBJ) có cùng mở tài khoản nostro tại Citibank, NewYork. Vì vậy, cơ chế thanh toán được thực hiện như sau: - Đầu tiên NH thực hiện lập điện thanh toán MT103 gửi đến ngân hàng giữ tài khoản nostro Citibank, NewYork với đầy đủ các nội dung: + Người gửi tiền: + Ngân hàng giữ tài khoản của người hưởng lợi. + Tên và tài khoản đơn vị hưởng. + Số tiền chuyển. +Nội dung thanh toán. +Chi tiết phí. - Căn cứ trên nội dung điện thanh tóan MT103 do NH gửi đến, ngân hàng Citibank, Newyork thực hiện việc thanh toán cho người thụ hưởng thông qua ngân hàng phục vụ của họ là Bank of China có tài khoản nostro tại Citibank, Newyork bằng một điện chuyển tiền MT103 thứ 2 với nội dung giống điện chuyển tiền MT103 thứ nhất nhận từ NH nhưng có số tiền thông thường là nhỏ hơn (thông thường các ngân hàng đại lý giữ tài khoản nostro sẽ thu 10 – 15USD cho mỗi món thanh toán) và tùy thuộc vào nội dung chi tiết phí ở điện chuyển tiền MT103 thứ nhất. Nếu tất cả các điện thanh toán đều sử dụng đúng các định dạng và các code trong thanh toán thì quá trình chuyển điện và hạch toán có thể hoàn toàn thực hiện một cách tự động. Đối với các điện thanh toán không sử dụng đúng định dạng và dùng những code không mã hoá tự động thì điện thanh toán sẽ bị hệ thống chặn lại và công tác chuyển tiếp điện và hạch toán được thực hiện thủ công, vì vậy đối với các điện này thì các ngân hàng đại lý sẽ thu phí thanh toán cao hơn đối với các điện thực hiện thanh toán tự động ( xem phụ lục 1).
  18. Sơ đồ 3.3: Sơ đồ thanh toán sử dụng phương pháp chuỗi Ordering Customer TIMEX Sender NHVNVX First MT103 Receiver Citibank, NewYork (CITIUS33) Second MT103 Acount with Institution Bank of China, Bejing (BKCHCNBJ) Beneficiary Customer China Genaral Electrics Mối liên hệ giữa MT103 thứ nhất và MT103 thứ 2 MT103 (First) MT103(Second) S S RR 20 20 23B 23B 32A 32A 50A 50A 52A 52A 57A 59A 59A 70 70 71A 71 71F 72/INS/ Ta cũng có thể sử dụng phương pháp chuỗi để thực hiện thanh toán cho tình huống 2 như sau:
  19. Sơ đồ 3.4: Sơ đồ thanh toán sử dụng phương pháp chuỗi Ordering Customer TIMEX Sender NHVNVX Firt MT103 Receiver Bank of NewYork, NewYork Second MT103 Intermediary Citibank, NewYork Institution Third MT103 Acount with Institution Bank of China, Bejing (BKCHCNBJ) Beneficiary Customer China Genaral Electric Figure 1 6.1.5 Các rủi ro trong thực hiện phương thức chuyển tiền: Rủi ro do thực hiện sai chỉ dẫn của ngưòi chuyển tiền: Ví dụ: NH nhận được một chỉ dẫn thanh toán chuyển 500,000 EUR cho người thụ hưởng mở tài khoản tại ngân hàng BNP Parisbas ở Paris. Tuy nhiên, khi thực hiện lệnh chuyển tiền, do sơ suất trong việc kiểm tra ngân hàng giữ tài khoản, cán bộ thanh toán đã chuyển nhầm số tiền trên cho ngân hàng Banque de Paris tại Paris. 3 ngày sau, người chuyển tiền thông báo cho ngân hàng là người thụ hưởng vẫn chưa nhận được tiền thanh toán và đề nghị tra soát. Kiểm tra lại hồ sơ, phát hiện ra sự nhầm lẫn nói trên, NH ngay lập tức yêu cầu ngân hàng Banque de Paris trả lại khoản tiền chuyển nhầm, đồng thời tạm thời sử dụng tiền của ngân hàng để trả cho người thụ hưởng theo đúng chỉ dẫn. Phải mất một tuần, sau rất nhiều điện yêu cầu, Banque de Paris mới trả lại khoản tiền chuyển nhầm của NH sau khi đã trừ 100EUR phí dịch vụ. Chỉ do sơ suất trong khi thực hiện chỉ dẫn thanh toán, NH đã phải chịu rủi ro lớn khi phải trả những chi phí phát sinh do việc trả nhầm và gây mất uy tín đối với khách hàng. Rủi ro do vi phạm các lệnh cấm vận của Mỹ: theo lệnh cấm vận của Mỹ, mọi khoản thanh toán bằng đồng USD qua hệ thống thanh toán bù trừ tại Mỹ cho những người hưởng có tên nằm trong danh sách cấm vận đều bị phong toả tại Mỹ. NH khi thực hiện lệnh thanh toán số tiền USD13,000 theo đề nghị của khách hàng trong nước cho 13 người du lịch thăm dò thị trường Cuba đã gặp sơ suất khi nêu tên Cuba trong lệnh thanh toán. Giao dịch trên khi được thực hiện bù trừ tại Mỹ thông qua ngân hàng đại lý American Express Bank, New York đã bị phong toả vì hệ thống điện tử phát hiện ra từ “Cuba”, là một nước bị Mỹ cấm vận. Mặc dù NH đã rất cố gắng liên hệ với các đối tác để tìm cách giải phóng số tiền bị phong toả, nhưng đều bị từ chối. Số tiền trên sẽ chỉ được trả lại cho NH khi Cuba không còn bị lệnh trừng phạt cấm vận của Mỹ.
  20. 6.2. Phương thức nhờ thu: 6.2.1 Khái niệm: Người xuất khẩu yêu cầu ngân hàng gửi hối phiếu và/hoặc chứng từ nhờ thu hộ tiền từ người nhập khẩu. Trong phương thức này, ngân hàng chỉ đóng vai trò trung gian thu hộ tiền, không có nghĩa vụ cam kết trả tiền. Việc nhờ thu có thể được thực hiện trên cơ sở hối phiếu (nhờ thu trơn-Clean Collection) hoặc bộ chứng từ (nhờ thu kèm chứng từ Documentary Collection).Giống như phương thức chuyển tiền, do chỉ đóng vai trò trung gian nên ngân hàng có thể gặp phải rủi ro khi không thực hiện đúng chỉ dẫn của các bên liên quan. Ngân hàng gửi nhờ thu (Remitting Bank) khi nhận chứng từ nhờ thu của nhà xuất khẩu có trách nhiệm kiểm tra kỹ chỉ dẫn nhờ thu: D/P – trả ngay hay D/A - trả chậm, người trả tiền, ngân hàng nhờ thu Nếu thực hiện sai chỉ dẫn của khách hàng, gửi bộ chứng từ không đúng địa chỉ, không đòi được tiền, hoặc làm thất lạc chứng từ của khách hàng trong quá trình xử lý nghiệp vụ, ngân hàng nhờ thu phải chịu trách nhiệm bồi thường thiệt hại cho người xuất khẩu. Trong phương thức nhờ thu, khách hàng muốn thông qua ngân hàng để ràng buộc việc nhận hàng với nghĩa vụ thanh toán của người nhập khẩu. Ngân hàng nhờ thu được chỉ dẫn trả chứng từ nếu người nhập khẩu thanh toán bộ chứng từ D/P hoặc chấp nhận thanh toán bộ chứng từ D/A. Ngân hàng nhờ thu có thể gặp rủi ro nếu không đọc kỹ chỉ dẫn của bộ chứng từ nhờ thu, trả chứng từ khi chưa yêu cầu nhà nhập khẩu nộp tiền để thanh toán bộ chứng từ D/P, hoặc thực hiện thanh toán không đúng chỉ dẫn thanh toán (Payment Instruction) của ngân hàng nhờ thu, dẫn đến thất lạc hoặc chậm trễ trong việc chuyển trả tiền. 6.2.2 Quy trình thực hiện thanh toán nhờ thu và các điện SWIFT được sử dụng: Đặc điểm của các điện trong giao dịch nhờ thu là tất cả các điện đều bắt đầu bằng số 4(MT 4XX), tùy theo từng mục đích sử dụng khác nhau mà 2 ký tự theo sau là khác nhau. Ví dụ: điện thông báo thanh toán MT400, thông báo chấp nhận bộ chứng từ D/A và xác định ngày thanh toán MT412, thông báo nhận được bộ chứng từ nhờ thu MT410, tra soát hỏi tình trạng bộ chứng từ MT420 Căn cứ bộ chứng từ và yêu cầu nhờ thu của nhà xuất khẩu ngân hàng gửi nhờ thu (Remitting Bank) tiến hành lập chỉ thị nhờ thu, chỉ dẫn thanh toán cùng bộ chứng từ gửi đến ngân hàng nhờ thu (Collecting Bank). Khi nhận được bộ chứng từ gửi nhờ thu: ngân hàng nhờ thu lập điện SWIFT MT410/499 hoặc MT999 có mã khoá testkey xác nhận đã nhận bộ chứng từ, đồng thời tiến hành liên hệ với nhà nhập khẩu: - Trường hợp khách hàng không chấp nhận bộ chứng từ : + Ngân hàng nhờ thu lập điện MT499 hoặc MT999 với mã khoá testkey thông báo cho ngân hàng gửi nhờ thu về tình trạng bộ chứng từ và chờ chỉ dẫn tiếp theo của ngân hàng gửi nhờ thu. +Thực hiện xử lý bộ chứng từ theo chỉ dẫn mới từ ngân hàng gửi nhờ thu. - Trường hợp khách hàng chấp nhận một phần giá trị bộ chứng từ: + Ngân hàng nhờ thu lập điện SWIFT MT499 hoặc MT999 có mã khoá testkey thông báo đến ngân hàng gửi nhờ thu. + Nếu ngân hàng gửi nhờ thu không chấp nhận, ngân hàng nhờ thu thực hiện theo chỉ dẫn từ ngân hàng gửi nhờ thu. + Nếu ngân hàng gửi nhờ thu chấp nhận, tiến hành thông báo cho nhà nhập khẩu và thực hiện nhờ thu như trường hợp khách hàng chấp nhận bộ chứng từ. - Trường hợp khách hàng chấp nhận thanh toán bộ chứng từ: + D/P (Documentary Against Payment) – nhờ thu trả ngay: ƒ Khi có đủ tiền thanh toán (tiền gửi và/hoặc tiền vay), ngân hàng nhờ thu trả chứng từ cho khách hàng, ký hậu vận đơn (nếu có) và giao chứng từ cho khách hàng. ƒ Thực hiện thanh toán nhờ thu: ngân hàng nhờ thu tiến hành lập điện thanh
  21. toán MT202 đến ngân hàng giữ tài khoản nostro yêu cầu trích tài khoản của mình thực hiện thanh toán theo chỉ dẫn cho ngân hàng hàng gửi nhờ thu, đồng thời lập điện thông báo thanh toán nhờ thu MT400/499 hoặc 999 trực tiếp đến ngân hàng gửi nhờ thu. + D/A (Documentary Against Acceptance) - nhờ thu trả chậm: ƒ Yêu cầu nhà nhập khẩu ký chấp nhận hối phiếu và cam kết thanh toán bộ chứng từ nhờ thu khi đến hạn. ƒLập điện SWIFT MT412/499 hoặc MT999 với mã khoá testkey gửi đến ngân hàng gửi nhờ thu thông báo cho họ biết ngày thanh toán và số tiền chấp nhận thanh toán. Ngân hàng nhờ thu trả chứng từ cho khách hàng, ký hậu vận đơn (nếu có) và giao chứng từ cho khách hàng. Khi đến hạn thanh toán ngân hàng nhờ thu tiến hành như trong trường hợp thanh toán nhờ thu trả ngay D/P. Khi nhận được thông báo thanh toán nhờ thu thông qua điện SWIFT MT400/499 hoặc 999 từ ngân hàng nhờ thu, ngân hàng gửi nhờ thu theo dõi khoản báo có từ ngân hàng phục vụ nhờ thu MT202/MT910, khi nhận được báo có tiến hành ghi có tài khoản khách hàng. 6.2.3 Các vướng mắc thường gặp trong phương thức nhờ thu: Tình huống thứ nhất: NH nhận được bộ chứng từ nhờ thu với chỉ dẫn là D/P 30 days after sight (giao chứng từ trên cơ sở thanh toán 30 ngày sau ngày nhận được chứng từ). Khi nhìn thấy cụm từ “30 days after sight”, cán bộ thực hiện đã không đọc kỹ “D/P”, cho rằng đây là bộ chứng từ trả chậm 30 ngày, nên đã xử lý như chứng từ D/A, nghĩa là chỉ yêu cầu khách hàng chấp nhận hối phiếu trả chậm và trả chứng từ. Đến thời hạn 30 ngày phải thanh toán, nhà nhập khẩu từ chối thanh toán vì hàng không đúng chất lượng quy định. Khi làm điện thông báo từ chối gửi tới ngân hàng gửi chứng từ nhờ thu, NH đã nhận được điện phản hồi yêu cầu thanh toán vì đó là chứng từ D/P. Do không thực hiện đúng chỉ dẫn nhờ thu, NH đã bị rủi ro khi phải trích tiền của ngân hàng để thanh toán thay cho nhà nhập khẩu. Việc đòi lại tiền từ nhà nhập khẩu gặp rất nhiều khó khăn, tốn thời gian và chi phí. Tình huống thứ hai: NH nhận được bộ chứng từ nhờ thu với chỉ dẫn là D/A against the collecting bank’s consent (giao chứng từ trên cơ sở chấp nhận hối phiếu trả chậm có ràng buộc cam kết của ngân hàng nhờ thu). Theo chỉ dẫn trên, NH không chỉ có nghĩa vụ yêu cầu nhà nhập khẩu ký chấp nhận hối phiếu trả chậm mà còn có nghĩa vụ thanh toán cho ngân hàng gửi nhờ thu vào ngày đến hạn. Do không hiểu hết yêu cầu của chỉ dẫn trên, cán bộ nghiệp vụ đã không yêu cầu khách hàng cam kết nộp tiền vào tài khoản thanh toán khi đến hạn mà chỉ đề nghị họ chấp nhận hối phiếu trả chậm như những bộ chứng từ D/A thông thường. Vào ngày đến hạn, nhà nhập khẩu không chịu nộp tiền vào tài khoản để thanh toán còn ngân hàng nước ngoài liên tục đề nghị NH trả tiền bộ chứng từ nhờ thu. Để giữ uy tín, NH phải đứng ra thanh toán thay bằng tiền của mình.
  22. Sơ đồ 3.5: SƠ ĐỒ THANH TOÁN NHỜ THU (1) Giao hàng Nhà nhập khẩu Nhà xuất khẩu (Drawee) (Drawer) và/hoặc n ộ p iềnt và/hoặc bộ ch ứ ng t (5) Ch ấp ậ n nh (2) Gửi h ố i phiếu (4) T/báo h ố i phiếu T/báo (4) ứ ngch từ và/hoặc bộ ừ NH Gửi nhờ thu (3) Gửi hối phiếu và/hoặc bộ chứng từ kèm chỉ dẫn thanh NH Nhờ thu ngGiao chứ từ (6) (Remitinghàng khách có (10)Báo Bank) toán (Collecting Bank) (4’) Xác nhận đã nhận được bộ chứng từ - - 42 MT410/499/999 (7) Chuy ển ti ền toán- toán- (7’) Điện thông báo thanh toán nhờ thu MT400/499/999 (hoặc MT412) MT 2 02 thanh báo có - MT910/202 có báo Điện (9) NH phục vụ NH gửi nhờ thu (8) NH phục vụ NH nhờ thu (Correspondent of Remiting bank) Chuyển (Correspondent of Collecting Bank) tiền
  23. 6.3 Phương thức tín dụng chứng từ: 6.3.1 Khái niệm: Phương thức tín dụng chứng từ là sự cam kết bằng văn bản của ngân hàng phát hành thư tín dụng đối với người thụ hưởng thư tín dụng (nhà xuất khẩu) sẽ trả tiền (L/C trả ngay) hoặc trả vào một thời điểm xác định trong tương lai (L/C trả chậm) tối đa tới một số tiền nếu người thụ hưởng xuất trình bộ chứng từ hoàn toàn phù hợp với quy định của L/C. Đây là sự đảm bảo quan trọng để nhà xuất khẩu yên tâm giao hàng. Trong phương thức này, ngân hàng phát hành đóng vai trò là người cam kết trả tiền cho người hưởng lợi của L/C. Ngoài nhà xuất khẩu và nhà nhập khẩu, trong phương thức tín dụng chứng từ còn có vai trò của các ngân hàng gồm: ngân hàng phát hành, ngân hàng thông báo, ngân hàng chiết khấu và ngân hàng xác nhận Mỗi ngân hàng liên quan có những trách nhiệm nhất định (được quy định trong Quy tắc thực hành thống nhất về tín dụng chứng từ của Phòng thương mại Quốc tế UCP 500). 6.3.2 Sử dụng các mẫu điện liên quan phát hành và thông báo L/C 6.3.2.1 Đối với ngân hàng phát hành L/C: Ngân hàng phát hành căn cứ trên đơn đề nghị mở thư tín dụng của người nhập khẩu, nếu chấp nhận phát hành ngân hàng có thể lựa chọn phát hành tín dụng thư bằng thư, telex hoặc phát hành thông qua các mẫu điện chuẩn được gửi thông qua hệ thống SWIFT. Ngày nay, có rất ít ngân hàng sử dụng phương pháp phát hành bằng thư do nhiều nguyên nhân trong đó có những nguyên nhân chính sau: - Thời gian từ khi thư tín dụng được phát hành đến ngân hàng thông báo và sau cùng là người thụ huởng trên thư tín dụng là khá lâu và chậm trễ. - Khó khăn cho ngân hàng thông báo kiểm tra tính chân thật của thư tín dụng khi phải kiểm tra chữ ký. - Các giao dịch phát sinh liên quan thư tín dụng được xử lý rất phức tạp và mất nhiều thời gian. - Chí phí cao. - Tính chuẩn mực không cao. Vì vậy, phương pháp phát hành tín dụng thư bằng telex và SWIFT thường được các ngân hàng áp dụng, trong đó phát hành thông qua hệ thống SWIFT chiếm đa số. Sự lựa chọn phát hành bằng phương pháp telex or SWIFT tùy thuộc vào mối quan hệ đại lý được thiết lập giữa ngân hàng phát hành với các ngân hàng khác tại các quốc gia khác nhau trên thế giới. Nếu ngân hàng phát hành và ngân hàng thông báo có quan hệ SWIFTCODE thì chắc chắn họ sẽ sử dụng phát hành bằng SWIFT. Một ngân hàng thiết lập được quan hệ với nhiều ngân hàng đại lý tại khắp các quốc gia trên thế giới có cơ hội sử dụng điện SWIFT trong phát hành tín dụng thư chiếm tỷ trọng xấp xỉ 100%. Khi ngân hàng phát hành và ngân hàng thông báo không có quan hệ đại lý (không thiết lập SWIFTCODE) thì thông thường họ sử dụng phương pháp phát hành bằng telex. Phương pháp này cũng rất phức tạp, trong mọi giao dịch đòi hỏi đều phải tính và kiểm ký hiệu mật “testkey” thông qua 2 ngân hàng đại lý của ngân hàng phát hành và ngân hàng thông báo, việc tính và kiểm tra testkey thông thường do phòng quan hệ quốc tế hoặc phòng ngân hàng đại lý đảm nhận. Lợi ích của việc sử dụng điện SWIFT trong phát hành thư tín dụng khắc phục được các nhược điểm của 2 phương pháp phát hành bằng thư và telex, thêm vào đó việc phát hành tín dụng thư thông qua SWIFT thì các yếu tố các trường được chuẩn hoá dễ sử dụng và ít sai sót. Về nguyên tắc, một thư tín dụng được phát hành thông qua hệ thống SWIFT từ ngân hàng phát hành gửi (Sender) đến ngân hàng nhận điện (Receiver)-ngân hàng thông báo nào, thì mọi giao dịch sửa đổi liên quan đến thư tín dụng đã được phát hành phải được ngân
  24. hàng phát hành gửi điện đến ngân hàng nhận điện – ngân hàng thông báo đó. Điện SWIFT được sử dụng để phát hành thư tín dụng gồm có: MT700/701. Thông thường đối với những thư tín dụng được phát hành có nội dung giới hạn dưới 100 dòng thì chỉ cần một điện MT700 là đủ, tuy nhiên đối với những thư tín dụng có nội dung lớn và dài trên 100 dòng thì ngoài điện MT700 thì hệ thống có thể phát sinh ra thêm tối đa 3 điện MT701 đi kèm là một bộ phận không thể tách rời của điện MT700. Đặc điểm của điện MT700/701 Trừ khi có những qui định khác, thư tín dụng được phát hành tuân thủ Quy tắc và thực hành thống nhất tín dụng chứng từ do Phòng thương mại quốc tế Paris ban hành và có hiệu lực khi tín dụng thư được phát hành. Ngân hàng thông báo (Advising Bank)- Ngân hàng nhận điện (Receiver) phải thông báo đến người thụ hưởng hay một ngân hàng thông báo khác khi tín dụng thư được phát hành dựa vào Quy tắc và thực hành thống nhất tín dụng chứng từ do Phòng thương mại quốc tế Paris ban hành. Tuy nhiên, điều đặc biệt cần lưu ý ở đây là điện phát hành thư tín dụng MT700/701 không chỉ ra là nó áp dụng ấn phẩm sửa đổi nào của Quy tắc và thực hành thống nhất tín dụng chứng từ - UCP, do cả 5 ấn phẩm sửa đổi này cùng tồn tại và không phủ định lẫn nhau, vì vậy để tránh tranh chấp phát sinh thì ngân hàng phát hành nên chỉ rõ ấn phẩm nào của Quy tắc và thực hành thống nhất tín dụng chứng từ - UCP do Phòng thương mại quốc tế Paris ban hành được áp dụng, thông thường nội dung này được ghi ở trường 72 của điện MT700. Trừ khi có những qui định khác, việc hoàn trả tín dụng thư nếu được áp dụng tuân thủ Quy tắc thống nhất về hoàn trả giữa các ngân hàng (Uniform Rules for Bank to Bank Reimbursement Under Documentaty Credit – URR 525) do Phòng thương mại quốc tế ban hành năm 1995. Quy tắc này quy định về cách thức áp dụng hoàn trả theo tín dụng chứng từ, nghĩa vụ và trách nhiệm của các ngân hàng tham gia, hình thức và ghi chú về uỷ quyền hoàn trả, sửa đổi uỷ quyền hoàn trả, yêu cầu hoàn trả và các cam kết hoàn trả . Trừ khi có những qui định khác, một tín dụng thư được thông báo đến người thụ hưởng hay qua một ngân hàng thông báo khác bằng điện SWIFT thì có giá trị hiệu lực và xác thực. Đối với các giao dịch liên quan đến thư tín dụng, khi sử dụng các mẫu điện chuẩn SWIFT đều có mã bắt đầu bằng số 7(7XX) khi nhận được các điện này từ hệ thống SWIFT thì mặc nhiên là nó xác thực và có hiệu lực thi hành. Tuỳ theo nội dung giao dịch mà 2 ký tự theo sau sẽ được ngân hàng lựa chọn cho phù hợp. Ví dụ: MT707 - là điện tu chỉnh thư tín dụng, MT756 - điện thông báo thanh toán . Tình huống 4: Công ty Tín Nghĩa (TIMEX) đề nghị NH (SWIFT: NHVNVX) phát hành một thư tín dụng cho người thụ hưởng là SahathaiCo.,Thailand có tài khoản tại Ngân hàng Kasikorn Public Bank, Thailand (SWIFT: KASITHBK) để nhập khẩu giấy Sackraft theo hợp đồng ngoại thương đã ký. Nếu chấp nhận phát hành, NH sẽ tiến hành chuyển tiếp những nội dung trong đơn đề nghị mở thư tín dụng vào trong nội dung điện SWIFT MT700/701 và lựa chọn ngân hàng hàng thực hiện thông báo. + Trường hợp nếu NH và Ngân hàng Kasikorn Public Bank, Thailand có thiết lập quan hệ SWIFTCODE thì điện phát hành thư tín dụng MT700/701 sẽ được NH gửi trực tiếp đến Kasikorn Public Bank, Thailand ngân hàng nhận điện (Receiver) - cũng chính là ngân hàng thông báo phục vụ người thụ hưởng Sahathai Co., Thailand.
  25. Sơ đồ 3.6:Sơ đồ phát hành thư tín dụng có quan hệ SWIFTCODE Applicant TIMEX Sender NHVNVX (Issuing Bank) MT700 (MT707) Receiver Kasikorn Public Bank, Thailand (Advising bank) (KASITHBK) Beneficiary 59 Sahathai Co.,Thailand Trường hợp nếu NH và Ngân hàng Kasikorn Public Bank, Thailand không có thiết lập quan hệ SWIFTCODE thì điện phát hành thư tín dụng MT700/701 sẽ được NH gửi trực tiếp đến một ngân hàng khác tại Thái lan có quan hệ SWIFTCODE với mình như Citibank, Bangkok, Thailand (cùng thành phố với Kasikorn Public Bank, Thailand - nếu có thể), và kèm theo trong nội dung điện MT700/701 tại trường 57A(D): Advise through Bank (thông báo qua ngân hàng) Kasikorn Public Bank, Thailand. Khi nhận được điện MT700/701 này Ngân hàng Citibank, Bangkok, Thailand thực hiện thông báo L/C đến Ngân hàng Kasikorn Public Bank, Thailand hoặc có thể thông báo trực tiếp thư tín dụng này đến người thụ hưởng.
  26. Sơ đồ 3.7:Sơ đồ phát hành thư tín dụng không có quan hệ SWIFTCODE Applicant TIMEX Sender NHVNVX (Issuing Bank) MT700 (MT707) Receiver Citibank, Bangkok, Thailand (Advising bank) (CITITHBK) Advise Through Bank Kasikorn Public Bank, Thailand (KASITHBK) Beneficiary 59 Sahathai Co., Thailand Khi phát hành một sửa đổi thư tín dụng MT707 đòi hỏi ngân hàng phát hành phải tuân thủ nguyên tắc điện MT700/701 được gửi đến ngân hàng nhận (Receiver)- ngân hàng thông báo (Advising Bank) nào, thì mọi sửa đổi phải được gửi đến ngân hàng ngân hàng nhận (Receiver)-ngân hàng thông báo (Advising Bank) đó. 6.3.2.2 Đối với ngân hàng thông báo L/C: Ngân hàng thông báo L/C có trách nhiệm kiểm tra tính chân thật bề ngoài của L/C trước khi thông báo cho người thụ hưởng không chậm trễ theo chỉ dẫn của ngân hàng phát hành. Trong trường hợp quyết định không thông báo L/C thì phải có ý kiến phản hồi cho ngân hàng phát hành không chậm trễ. Đây là một trách nhiệm rất quan trọng của ngân hàng thông báo. Thư tín dụng là cam kết trả tiền của ngân hàng phát hành. Dựa trên cam kết đó, nhà xuất khẩu tin tưởng giao hàng cho nhà nhập khẩu và lập bộ chứng từ đòi tiền ngân hàng phát hành. Nếu thư tín dụng là giả mạo, thì ngân hàng phát hành hoàn toàn không bị ràng buộc vào cam kết này và nhà xuất khẩu không thể đòi tiền từ ngân hàng phát hành. Có 3 hình thức giả mạo thư tín dụng: (i) ngân hàng phát hành không có thực, (ii) Ngân hàng phát hành có thực nhưng thư tín dụng giả mạo, (iii) Thư tín dụng là có thực nhưng sửa đổi giả mạo. Trong bất kỳ hình thức giả mạo nào, cam kết của ngân hàng phát hành đều không có hiệu lực, và rủi ro đối với nhà xuất khẩu chắc chắn xảy ra nếu không phát hiện kịp thời. Chính vì vậy, bằng các nghiệp vụ của mình, ngân hàng thông báo phải có trách nhiệm kiểm tra tính
  27. chân thật bề ngoài của thư tín dụng để tránh sự giả mạo. Ngân hàng có thể kiểm tra tính chân thật thông qua chữ ký trên thư tín dụng (kiểm tra chữ ký uỷ quyền nếu phát hành bằng thư), bằng mã khoá (testkey nếu phát hành bằng telex ) hoặc bằng các mẫu điện đảm bảo tính xác thực (nếu phát hành bằng SWIFT với các mẫu điện MT700, MT710, MT720 ). Nếu ngân hàng đã sử dụng các biện pháp nghiệp vụ nhưng không thể xác định được tính chân thật bề ngoài của L/C thì phải có ý kiến phản hồi cho ngân hàng phát hành và từ chối thông báo cho người thụ hưởng. Nếu ngân hàng không kiểm tra tính xác thực của L/C đã thông báo cho nhà xuất khẩu để nhà xuất khẩu giao hàng nhưng không đòi được tiền do L/C bị giả mạo, nhà xuất khẩu có quyền yêu cầu ngân hàng thông báo phải bồi thường. Rủi ro của ngân hàng thông báo lúc này không chỉ cho chính lô hàng bị mất mà còn ảnh hưởng nghiêm trọng đến uy tín của ngân hàng trong hoạt động TTQT. Năm 1997, NH nhận được một thư tín dụng trị giá USD1,957,800 phát hành bằng telex từ một ngân hàng ở Mỹ cho người hưởng lợi là Công ty xuất nhập khẩu Kiên giang, nhập khẩu gạo. Bức điện có mã khóa (testkey) với ngân hàng Bank of New York, Hongkong. Tuy nhiên, ngân hàng này thông báo là không cung cấp số testkey đó và đề nghị NH xác nhận lại với ngân hàng phát hành. Khách hàng trong nước đã chuẩn bị đủ hàng ở cảng, đang rất cần L/C để chờ xếp xuống tàu nên thúc giục NH thông báo L/C. Do không kiểm tra được tính chân thực bề ngoài của bức điện, NH đã kiên quyết từ chối thông báo L/C. Sau khi tìm hiểu, khách hàng phát hiện người nhập khẩu là kẻ lừa đảo và rất may là họ chưa giao hàng. Đây là một bài học kinh nghiệm trong việc kiểm tra tính chân thật bên ngoài của L/C và sửa đổi L/C trước khi thông báo cho người thụ hưởng, nó cũng cho thấy rủi ro khi phát hành thư tín dụng bằng telex. Khi nhận được một thư tín dụng được phát hành thông qua hệ thống SWIFT MT700/701 hoặc MT710/711 (Advise of Third’s Documentary Credit - thông báo đến ngân hàng thứ 3 của thư tín dụng hoặc MT720/721 (Transfer of Documentary Credit -chuyển nhượng tín dụng thư) thì mặc nhiên thư tín dụng này có tính xác thực. Ngoài việc thông báo đến người thụ hưởng hoặc ngân hàng thông báo được chỉ định Trong thư tín dụng, ngân hàng thông báo có trách nhiệm thông báo đến ngân hàng phát hành một xác nhận đã nhận được thư tín dụng, hoặc thông báo chấp nhận hay từ chối một sửa đổi tín dụng thư bằng điện MT730 (Acknowledgement) hoặc điện MT799. Sơ đồ 3.8: Sơ đồ xác nhận đã nhận thư tín dụng Sender NHVNVX (Issuing Bank) (MT730/799) MT700 (MT707) Receiver Kasikorn Public Bank, Thailand (Advising bank) (KASITHBK) 6.3.3 Sử dụng các mẫu điện liên quan đến chứng từ xuất trình có bất đồng: Ngân hàng chiết khấu/thương lượng là ngân hàng phục vụ người thụ hưởng, có trách nhiệm chiết khấu hoặc thương lượng bộ chứng từ do nhà xuất khẩu xuất trình. Ngân hàng chiết khấu/thương lượng có thể được ngân hàng phát hành chỉ định trong L/C hoặc do chính người thụ hưởng lựa chọn. Bộ chứng từ do nhà xuất khẩu xuất trình có thể rơi vào 1 trong 2 tình huống sau. Thứ nhất: bộ chứng từ hoàn toàn phù hợp. Trong trường hợp này Ngân hàng chiết khấu/thương lượng tiến hành đòi tiền ngân hàng phát hành/xác nhận bằng cách gửi bộ chứng từ đã được xuất trình phù hợp với điều khoản và điều kiện của thư tín dụng kèm theo chỉ dẫn thanh toán (Payment Instruction) đến ngân hàng phát hành/xác nhận. Thứ hai: bộ chứng từ có bất đồng. Ngân hàng chiết khấu/thương lượng đề nghị nhà xuất khẩu tu chỉnh chứng từ (nếu có thể được) và còn trong thời hạn xuất trình và hiệu lực của thư
  28. tín dụng. Nếu bộ chứng từ được tu chỉnh phù hợp với điều khoản và điều kiện của thư tín dụng và còn trong thời hạn xuất trình thì ngân hàng chiết khấu/thương lượng có trách nhiệm chiết khấu hoặc thương lượng bộ chứng từ, tiến hành đòi hoàn trả bằng cách gửi bộ chứng từ hoàn hảo đến ngân hàng phát hành/xác nhận. Nếu bộ chứng từ xuất trình không thể sữa chữa những bất đồng thì nhà xuất khẩu có thể yêu cầu ngân hàng chiết khấu/thương lượng hỏi ý kiến ngân hàng phát hành có chấp nhận bất đồng hay không. Ngay khi nhận được yêu cầu của nhà xuất khẩu ngân hàng chiết khấu/thương lượng có trách nhiệm tiến hành liên hệ với ngân hàng phát hành. Trước tiên ngân hàng chiết khấu/thương lượng kiểm tra xem nếu không có quan hệ SWIFTCODE với ngân hàng phát hành thì tiến hành tính ký hiệu mật testkey thông qua ngân hàng đại lý sau đó tiến hành giao dịch bằng khoá testkey đã được thiết lập trong các điện tự do hoặc telex, phương pháp này mất khá nhiều thời gian và giao dịch rất phức tạp. Đối với các ngân hàng lớn có mạng lưới ngân hàng đại lý rộng khắp thì mọi giao dịch đều được thực hiện nhanh chóng thông qua hệ thống SWIFT. Trong trường hợp này, ngân hàng chiết khấu/thương lượng có thể lựa chọn ngay mẫu điện SWIFT- thông báo bộ chứng từ xuất trình có bất đồng yêu cầu chấp nhận hay từ chối bất đồng bằng điện MT750 (Advice of Discrepancy) và gửi trực tiếp đến ngân hàng phát hành. Khi nhận được điện thông báo bộ chứng từ xuất trình xuất trình có bất đồng MT750 từ ngân hàng chiết khấu/thương lượng, ngân hàng phát hành có trách nhiệm liên hệ nhà nhập khẩu hỏi ý kiến của họ có chấp nhận bất đồng hay không?. Nếu nhà nhập khẩu từ chối bộ chứng từ có bất đồng, ngân hang phát hành tiến hành lập điện SWIFT từ chối bất đồng MT734 (Advice of Refusal) đến ngân hàng chiết khấu/thương lượng, nếu nhà nhập khẩu chấp nhận bộ chứng từ có bất đồng ngân hàng phát hành tiến hành lập điện SWIFT thông báo bất đồng đã được chấp nhận MT732(Advice of Discharge)/MT799 đến ngân hàng chiết khấu/thương lượng. Trong trường hợp ngân hàng chiết khấu/thương lượng nhận được điện MT732 (Advice of Discharge - chấp nhận bất đồng từ ngân hàng phát hành) thì tiến hành gửi bộ chứng từ đòi hoàn trả. Ngược lại, nếu nhận được MT734 (từ chối bất đồng) thì ngân hàng chiết khấu/thương lượng thông báo ngay cho người thụ hưởng biết để tiến hành đàm phán với nhà nhập khẩu, có thể chuyển sang hình thức nhờ thu để đòi tiền. Đối với những điện SWIFT trên, ta chỉ cần nhìn vào đầu điện (loại điện) là có thể biết ý nghĩa và nội dung bức điện. Bên cạnh đó, các ngân hàng còn thể sử dụng mẫu điện MT799 trong các giao dịch liên quan đến thư tín dụng, đối với mẫu điện này ngân hàng nhận điện chỉ có thể biết được nội dung bức điện khi đọc nội dung của nó, nhưng các ngân hàng có thể sử dụng MT799 trong việc giải thích chi tiết lập trường quan điểm của mình đối với giao dịch liên quan. Ví dụ: nếu điện MT 799 có nội dung từ chối bất đồng nó cũng tương đương điện MT734 Ta nhận thấy các giao dịch liên quan đến việc xử lý các bất đồng được thực hiện qua hệ thống SWIFT giữa các ngân hàng có liên quan rất an toàn, nhanh chóng và tiện lợi, nếu không có hệ thống này thì việc trao đổi thông tin rất khó khăn và không có chứng cứ pháp lý hoặc chứng cứ không rõ ràng khi xảy ra tranh chấp. Việc xác lập các điện giao dịch được hệ thống ghi nhận và mã hoá và xác định trạng thái của từng bức điện được giao dịch. Các ngân hàng phải chịu trách nhiệm về nội dung bức điện mà mình lập ra và được hệ thống SWIFT xác nhận là đã được xác lập.
  29. Sơ đồ 3.9: Sơ đồ giao dịch liên quan đến chứng từ có bất đồng Applicant (3) (4) Reply (Issuing Bank) (5) MT732/734/799 (MT750/799) (2) Advising bank/ NegotiatingBank (1) Docs. with disrepancies Beneficiary
  30. 6.3.4 Sử dụng các mẫu điện liên quan đến hoàn trả giữa các ngân hàng. 6.3.4.1 Thực hiện thanh toán thông thường đối với thư tín dụng không cho phép đòi tiền điện. Ngân hàng phát hành sau khi tiến hành kiểm tra bộ chứng từ xuất trình sẽ thực hiện thanh toán trên nguyên tắc: thực hiện thanh toán ngay đối với thư tín dụng trả ngay, thực hiện chấp nhận thanh toán đối với L/C trả chậm khi hội đủ các điều kiện sau: Chứng từ hoàn hảo hoặc khách hàng chấp nhận bằng văn bản đối với bộ chứng từ có bất đồng. Có đủ tiền trên tài khoản ký qũy của khách hàng cho khoản thanh toán ngay, hoặc khách hàng ký kỳ hạn nợ đối với các khoản thanh toán trả chậm. Trong trường hợp khách hàng không có đủ tiền thanh toán, thông báo cho phòng quản lý khách hàng (tín dụng) thực hiện cho vay bắt buộc để thanh toán thư tín dụng. Phòng TTQT tiến hành thanh toán cho ngân hàng chiết khấu/thương lượng theo chỉ dẫn thanh toán (Cover Sheet, Payment Instruction). Nếu chỉ dẫn không rõ ràng, tiến hành lập điện SWIFT MT799 hoặc MT999 có mã khoá yêu cầu ngân hàng chiết khấu/thương lượng xác nhận lại chỉ dẫn thanh toán hoặc thay bằng chỉ dẫn thanh toán mới. Sau khi nhận được điện xác nhận hoặc thay thế chỉ dẫn thanh toán bằng điện SWIFT có xác thực, ngân hàng phát hành thư tín dụng tiến hành thực hiện lập điện thanh toán MT202 gửi đến ngân hàng giữ tài khoản nostro yêu cầu trích tài khoản của mình chi trả cho ngân hàng chiết khấu/thương lượng theo chỉ dẫn và đồng thời lập điện thông báo thanh toán MT756/799/999 gửi trực tiếp đến ngân hàng chiết khấu/thương lượng. Khi nhận được điện thông báo thanh toán từ ngân hàng phát hành (thông thường đến trước điện báo có hoặc điện thanh toán), ngân hàng chiết khấu/thương lượng tiến hành theo dõi điện SWIFT báo có MT910/950 hoặc điện thanh toán MT202 được gửi từ ngân hàng giữ tài khoản nostro của ngân hàng phát hành được thể hiện trong nội dung của điện thông báo. Sau khi nhận được điện báo có hoặc điện thanh toán, ngân hàng chiết khấu/thương lượng tiến hành ghi có tài khoản khách hang. Trong trường hợp thanh toán đối với thư tín dụng trả chậm thực hiện theo nguyên tắc chung, khi bộ chứng từ hoàn toàn phù hợp hoặc khách hàng đã chấp nhận bộ chứng từ có bất đồng để được nhận hàng và ký chấp nhận trên thông báo kỳ hạn nợ theo thư tín dụng trả chậm. Ngân hàng phát hành tiến hành lập điện SWIFT MT799, MT756 hoặc MT999/telex có mã khoá testkey, thông báo cho ngân hàng chiết khấu/thương lượng về việc ngân hàng phát hành đã chấp nhận thanh toán và giải tỏa bộ chứng từ, nội dung bức điện ghi rõ số tiền và ngày đến hạn thanh toán. Khi đến hạn thanh toán tiến hành thanh toán như đối với thư tín dụng trả ngay trả ngay.
  31. Sơ đồ 3.10: SƠ ĐỒ THANH TOÁN THƯ TÍN DỤNG (Trường hợp không chỉ ra ngân hàng hoàn trả và/hoặc không cho phép đòi tiền điện) Giao hàng (5) Nhà nhập khẩu Đề nghị tu chỉnh L/C (5a) Nhà xuất khẩu (Applicant) (Beneficiary) Ký Hợp đồng ngoại thương Đề ị ngh tu ch ỉ nh L/C Đơn xin m ở L/C (1) (5b) (4) (5e) Xu ất trình bộ từ ch ứ ng Báo có khách hàng nh L/C ch ỉ nh tu T/b (3’) X/n đã nhận L/C- (4’) X/n đã nhận L/C- báoL/C Thông NH Phát hành NH Thông báo NH Thông báo MT730 (2) Phát hành L/C MT730 (3) T/báo L/C (Issuing Bank) (Advising Bank) (Advising Bank) MT700/701 710/711 (6) - - 54 (5c) Tu chỉnh L/C MT707 (5d) Tu chỉnh L/C MT707 (11) (7a) Điện hỏi bất đồng có chấp nhận được không-MT750 (7b) Điện trả lời chấp nhận bất đồng-MT752 NH Chiết khấu/thương lượng (Negotiating/Claiming Bank) (7) Gửi chứng từ (8a) Thông báo bất đồng - MT734 (8’) Thông báo hoàn trả - MT756 (10) Báo có -MT910có Báo (10) (8) Điện thanh toán- MT202 NH phục vụ NH phát hành (9) Chuyển NH phục vụ NH đòi tiền (Correspondent of Issuing Bank) tiền (Correspondent of Claiming Bank)
  32. 6.3.4.2 Thực hiện thanh toán trường hợp thư tín dụng cho phép đòi tiền điện và tự động ghi nợ tài khoản nostro: Các thư tín dụng có xác nhận nội dung trường 49 ghi: “Confirm”. Khi phát hành thư tín dụng có xác nhận thông thường ngân hàng phát hành lựa chọn một trong số các ngân hàng đại lý có quan hệ tốt để làm ngân hàng thông báo và xác nhận thư tín dụng, theo thông lệ thư tín dụng có xác nhận cho phép đòi tiền bằng điện, hoặc trong thư tín dụng có chỉ ra ngân hàng hoàn trả tại trường 53 (Reimbursing Bank) cũng chính là ngân hàng giữ tài khoản nostro của ngân hàng phát hành. Đối với các thư tín dụng loại này, ngân hàng phát hành yêu cầu ngân hàng đòi tiền phải xác nhận chứng từ hoàn toàn phù hợp với điều kiện, điều khoản của thư tín dụng. Ngân hàng phát hành sau khi tiến hành gửi điện SWIFT MT700/701 phát hành thư tín dụng đến ngân hàng thông báo, đồng thời họ lập điện ủy quyền hoàn trả hoặc cho phép tự động ghi nợ tài khoản nostro bằng mẫu điện SWIFT MT740 (Authorisation to Reimburse)/MT799 hoặc điện tự do MT999/telex có mã khoá đến ngân hàng hoàn trả, yêu cầu nội dung điện ủy quyền phải dẫn chiếu “Subjected to Uniform Rules for Bank to Bank Reimbursement Under Documentaty Credit, ICC Publication No.525”. Sau khi đã ủy quyền hoàn trả, nếu thư tín dụng có sửa đổi giá trị và/hoặc gia hạn hiệu lực, ngân hàng phát hành lập điện sửa đổi ủy quyền hoản trả bằng điện SWIFT MT747 (Amendment to an Authorisation to Reimburse) tương úng cho phù hợp. Trong trường hợp thư tín dụng cho phép đòi tiền điện, ngân hàng chiết khấu/thương lượng sau khi kiểm tra bộ chứng từ xuất trình hoàn hảo, tiến hành lập điện SWIFT đòi hoàn trả MT742 (Reimbursement Claim) đến ngân hàng hoàn trả và điện đòi thanh toán MT754 (Advice of Payment/Acceptance/Negotiation) hoặc điện MT999/telex có mã khoá testkey đến ngân hàng phát hành nội dung của điện chỉ rõ bộ chứng từ hoàn toàn phù hợp với điều kiện, điều khoản của thư tín dụng và yêu cầu hoàn trả hiệu lực của thư tín dụng hoặc trong vòng 2-3 ngày làm việc kể từ ngày lập điện đòi tiền theo thông lệ quốc tế, đồng thời lập thư đòi tiền cùng bộ chứng từ gửi đến ngân hàng phát hành/xác nhận, trên thư đòi tiền có tham chiếu đến bức điện đòi tiền đã gửi để tránh thanh toán hoàn trả trùng lắp. Ngân hàng phát hành/xác nhận tiến hành kiểm tra tính xác thực của điện đòi tiền và ghi nợ tài khoản nostro khi nhận được điện SWIFT báo nợ MT950 hoặc MT999 có mã khoá testkey từ ngân hàng ủy quyền hoàn trả. Thông thường trước khi chấp nhận phát hành thư tín dụng có điều khoản cho phép đòi tiền điện, ngân hàng phát hành đã phân loại đánh giá và phân loại doanh nghiệp chỉ phát hành đối với các doanh nghiệp ký qũy 100%, doanh nghiệp được xếp hạng tốt, doanh nghiệp đã ký hợp đồng tín dụng cho lô hàng nhập khẩu. Với thư tín dụng cho phép đòi tiền bằng điện, ngân hàng chiết khấu/thương lượng sẽ đối mặt với rủi ro nhiều nhất do nếu không phát hiện bộ chứng từ có bất đồng mà tiến hành đòi hoàn trả và ghi có tài khoản khách hàng, khi chứng từ được xuất trình tại ngân hàng phát hành nếu chứng từ có bất đồng thì ngân hàng chiết khấu/thương lượng sẽ bị yêu cầu hoàn trả lại tiền cũng như phí phạt cho ngân hàng phát hành. Rủi ro đối với ngân hàng chiết khấu/thương lượng: NH Kiên Giang cũng đã gặp phải rủi ro khi kiểm tra không kỹ bộ chứng từ xuất khẩu gạo do Công ty Xuất nhập khẩu Kiên Giang xuất trình. Bộ chứng từ đó trị giá 2 triệu USD và được phép đòi tiền bằng điện. Do không phát hiện ra một lỗi bất đồng là Tờ khai hải quan (Customs Declaration) không được ghi chú bản chính (marked Original) như L/C quy định nên NH Kiên Giang đã đòi tiền từ ngân hàng hoàn trả và được thanh toán trong vòng 3 ngày làm việc. Tuy nhiên, sau khi được thanh toán 5 ngày, ngân hàng phát hành nhận được chứng từ đã phát hiện ra bất đồng nói trên và ngay lập tức yêu cầu NH hoàn trả lại tiền đợi chỉ dẫn từ nhà nhập khẩu, đồng thời yêu cầu NH trả 750USD tiền phạt. Ngay sau khi nhận được tiền thanh toán từ ngân hàng hoàn trả, NH đã báo có cho khách hàng nên việc đòi lại tiền là vấn đề rất khó khăn và ảnh hưởng đến uy tín của NH. Sau khi làm việc với ngân hàng phát hành và nhà nhập khẩu, bộ chứng từ có bất đồng cuối cùng đã được chấp nhận và NH không phải trả lại khoản tiền đã được ghi có. Việc bị mất 750USD không chỉ là những thiệt hại về tài chính còn gây
  33. mất uy tín cho NH đối với khách hàng xuất khẩu trong nước. Rủi ro đối với ngân hàng phát hành tín dụng thư: NH được yêu cầu mở thư tín dụng, xác nhận bởi một ngân hàng có uy tín đối với nhà xuất khẩu. L/C cho phép ngân hàng xác nhận đồng thời là ngân hàng chiết khấu đòi tiền bằng điện từ một ngân hàng hoàn trả nếu nhà xuất khẩu xuất trình bộ chứng từ phù hợp tới ngân hàng xác nhận. Việc thanh toán được thực hiện trước khi ngân hàng phát hành nhận được bộ chứng từ đòi tiền. Khi nhận được chứng từ, NH kiểm tra và phát hiện có lỗi bất đồng là trên vận đơn đường biển không chỉ ra tên của người chuyên chở theo điều 23UCP 500. Do hàng chưa về tới cảng nên khách hàng đã từ chối chấp nhận bất đồng. NH yêu cầu ngân hàng xác nhận trả lại tiền đã đòi từ ngân hàng hoàn trả nhưng sau hơn 1 tuần tài khoản của NH mới được ghi có lại. NH và nhà nhập khẩu đã bị thiệt hại do bị chiếm dụng vốn trong khoảng thời gian từ khi phải thanh toán cho đến khi đòi được tiền. Trong trường hợp tồi tệ hơn, ngân hàng xác nhận không chấp nhận những bất đồng do ngân hàng phát hành đưa ra và không chịu hoàn trả tiền. Khi đó, ngân hàng phát hành buộc phải kiện ra Phòng thương mại quốc tế (ICC) để giải quyết. Việc giải quyết tranh chấp trong việc kiểm tra chứng từ thường là rất phức tạp, mất thời gian, và tốn kém. Nó phụ thuộc khá nhiều vào tương quan lực lượng giữa hai ngân hàng liên quan. Do vậy, cho dù có được phân xử là đúng thì ngân hàng phát hành và nhà nhập khẩu cũng phải mất rất nhiều thời gian, chi phí, mất cơ hội kinh doanh và đặc biệt là bị đọng vốn. Sơ đồ 3.11: SƠ ĐỒ THANH TOÁN THƯ TÍN DỤNG (Trường hợp chỉ ra ngân hàng hoàn trả và/hoặc cho phép đòi tiền điện) Giao hàng (5) Nhà nhập khẩu Đề nghị tu chỉnh L/C (5a) Nhà xuất khẩu (Applicant) (Beneficiary) Ký Hợp đồng ngoại thương Đề ị ngh tu ch ỉ nh L/C Đơn xin m ở L/C (1) (5b) (4) (5e) nh L/C ch ỉ nh tu T/b (3’) X/n đã nhận L/C- (5c) Tu chỉnh NH Thông báo (4’)báoL/C Thông X/n đã nhận 710/7 L/C MT707 (Advising Bank) NH Phát hành MT730 (2) Phát hành L/C L/C-MT730 (3) 11 (Issuing Bank) MT700/701 T/báo L/C (5d)
  34. Tu chỉnh L/C Xu ất trình bộ từ ch ứ ng MT707 Báo có khách hàng (6) (10) (7a) Điện hỏi bất đồng có chấp nhận được không-MT750 (7b) Điện trả lời chấp nhận bất đồng-MT752 NH Chiết khấu/thương lượng (Negotiating/Claiming Bank) (7’) Gửi chứng từ và điện thông báo đòi tiền- MT754 (7) Điện đòi hoàn trả –MT742 (9) Báo có -MT910 có Báo (9) 58 - - 58 (8’) Điện báo nợ –MT900 NH Hoàn trả NH phục vụ NH đòi tiền (8) Chuyển (5’) Sửa đổi ủy quyền hoàn trả- (Reimbursing Bank) (Correspondent of Claiming Bank) tiền MT747 (2’) Điện ủy quyền hoàn trả- MT740
  35. 6.4 Các điện swift dùng trong tra soát: Như chúng ta đã biết trong hoạt động thanh toán không thể tránh khỏi những sai sót, những vướng mắc. Nguyên nhân của những sai sót, vướng mắc này này có thể đến từ phía khách hàng hoặc chính bản thân ngân hàng do sai sót kỹ thuật, tác nghiệp Vì vậy, việc thực hiện lập các điện tra soát là một bộ phận không thể tách rời trong hoạt động TTQT. Các mẫu điện tra soát thông qua hệ thống SWIFT được chuẩn hoá: 6.4.1 Phương thức chuyển tiền: Khi muốn tra soát hỏi về tình trạng một giao dịch mà mình đã thực hiện trước đó, hay các vướng mắc phát sinh, ngân hàng có thể lập các điện tra soát hỏi MT195/199, MT295/299 hoặc MT999/telex với mã khoá. Yêu cầu đối với điện tra soát hỏi này là phải tham chiếu đến số giao dịch trước đó và nội dung tra soát rõ ràng để ngân hàng nhận lệnh có thể tham chiếu đến giao dịch trước đó mà lập tra soát trả lời. Khi nhận được các điện tra soát hỏi thì ngân hàng nhận lệnh có trách nhiệm trả lời các yêu cầu thắc mắc với chỉ dẫn rõ ràng thông qua các điện SWIFT MT196/199, MT296/299 hoặc MT999/telex với mã khoá trong đó chỉ rõ số giao dịch tham chiếu của ngân hàng lập điện tra soát hỏi, đồng thời cũng tham chiếu đến số giao dịch mà của mình để thuận tiện trong tra soát. Tất cả các số tham chiếu của giao dịch trong các điện tra soát hỏi và tra soát trả lời đều thực hiện theo nguyên tắc: trường 20 của điện tra soát ghi số giao dịch tham chiếu của ngân hàng gửi điện, trường 21 của ghi số giao dịch tham chiếu của ngân hàng nhận điện. Theo quy định, đối với điện MT195/295 khi nhận được điện này thì ngân hàng nhận điện nhận biết ngay là điện tra soát hỏi và ngược lại đối với điện MT196/296 khi nhận được điện này thì ngân hàng nhận điện nhận biết ngay là điện tra soát trả lời. Riêng với điện MT199, MT999/telex thì phải đọc nội dung của bức điện thì ngân hàng nhận điện mới biết được nó là điện tra soát hỏi hay tra soát trả lời. 6.4.2 Phương thức nhờ thu: Trong phương thức nhờ thu: nếu muốn lập điện tra soát hỏi ta dùng điện MT420, khi thực hiện trả lời tra soát ta dùng điện MT422, tuy nhiên các giao dịch tra soát hỏi và tra soát trả lời có thể được thực hiện thông qua điện MT499 hoặc MT999, tùy theo nội dung trong bức điện mà nó có nội dung tra soát hỏi, trả lời hay giải thích. Tương tự lập điện tra soát trong phương thức chuyển tiền, tất cả các số tham chiếu của giao dịch trong các điện tra soát hỏi và tra soát trả lời đều thực hiện theo nguyên tắc: trường 20 của điện tra soát ghi số giao dịch tham chiếu của ngân hàng gửi điện, trường 21 của ghi số giao dịch tham chiếu của ngân hàng nhận điện đển thuận tiện trong giao dịch. 6.4.3 Phương thức tín dụng chứng từ: Ngoài các mẫu điện đã được trình bày ở 3.3 khi muốn tra soát hỏi, trả lời hay giải thích, các ngân hàng có thể lựa chọn bằng cách lập các điện SWIFT MT799, MT999/telex có mã khoá với nội dung mà mình muốn diễn đạt. Việc lập điện tuân thủ nguyên tắc: trường 20 của điện tra soát ghi số giao dịch tham chiếu của ngân hàng gửi điện, trường 21 của ghi số giao dịch tham chiếu của ngân hàng nhận điện đển thuận tiện trong giao dịch. 7. NHẬN XÉT VỀ HỆ THỐNG THANH TOÁN SWIFT: 7.1. Những điểm mạnh: - Tính chuẩn mực cao: các mẫu điện thực hiện các giao dịch trong hoạt động thanh toán quốc tế được chuẩn hoá bởi tổ chức SWIFT đã tạo tính thống nhất về định dạng của từng mẫu điện, giúp cho các ngân hàng dễ dàng ứng dụng và sử dụng. Định dạng của từng mẫu điện SWIFT thường xuyên được sửa đổi bổ sung cho phù hợp với yêu cầu của hoạt động ngân hàng hiện đại . - Tính xác thực cao: Với sự phát triển mạnh mẽ của công nghệ thông tin tạo điều
  36. kiện thúc đẩy công nghệ ngân hàng được ứng dụng phục vụ khách hàng tốt hơn, thể hiện thông qua các dịch vụ tiện ích ngân hàng cung cấp ngày càng đa dạng. Song bên cạnh đó, hoạt động tội phạm ngân hàng xuất hiện ngày càng nhiều với trình độ ngày càng tinh vi và mức độ thiệt hại ngày càng nghiêm trọng. Hệ thống SWIFT cho phép các ngân hàng và các tổ chức tài chính thiết lập và thực hiện các giao dịch bằng các điện SWIFT xác thực được mã hoá, hạn chế các giao dịch bằng thư vốn chứa đựng nhiều rỏi ro (giả mạo chữ ký). - Tính tự động cao: được chuẩn hoá về mặt định dạng của các điện SWIFT, nếu ngân hàng sử dụng điện đúng định dạng và tuân thủ các điều kiện của từng trường nội dung thì tất cả các điện được khởi tạo bằng tay hay tự động đều được hệ thống SWIFT xử lý tự động chuyển đến đúng ngân hàng nhận điện mà ngân hàng khởi tạo điện muốn gửi đến một cách tức thời. - Tính chính xác cao: do điện SWIFT được chuẩn hoá và tính tự động cao nên hạn chế sự can thiệp bằng tay vì vậy nội dung của điện SWIFT được chuyển tải qua hệ thống SWIFT từ ngân hàng khởi tạo đến ngân hàng nhận điện là chính xác và nguyên mẫu. - Giảm thiểu rủi ro và khó hiểu: do tất cả các điện SWIFT đều được chuẩn hoá về định dạng, nội dung và cách sử dụng và điều kiện của từng trường trong điện cũng như ngôn ngữ được sử dụng trong giao dịch là tiếng Anh, tạo điều kiện cho các giao dịch được thực hiện dễ dàng, dễ hiểu tránh được các nhầm lẫn, mâu thuẫn từ đó giảm thiểu các tranh chấp phát sinh giữa các ngân hàng. -Tăng hiệu quả xử lý và thực hiện các giao dịch, cải thiện tính năng các dịch vụ, tốc độ nhanh hơn và giảm chi phí trung gian do việc thực hiện các giao dịch bằng các điện thông qua hệ thống SWIFT được thực hiện tự động và được chuẩn hoá giúp cho việc xử lý các giao dịch được nhanh chóng, tăng hiệu quả hoạt động TTQT, tiết kiệm thời gian và chi phí. -Tăng cường khả năng quản lý một cách toàn diện: quản lý dữ liệu, cập nhập “on line” các giao dịch trong toàn hệ thống ngân hàng thông qua các chương trình chuyển đổi như Trade Finance, SWIFT Editor. Cho phép hệ thống kiểm soát chặt chẽ mọi giao dịch, cũng như thông tin khách hàng và hạn mức tín dụng của khách hàng. - Sử dụng SWIFT sẽ tuân theo tiêu chuẩn thống nhất trên toàn thế giới: Đây là điểm chung của bất cứ ngân hàng nào tham gia SWIFT có thể hòa đồng với cộng đồng ngân hàng trên thế giới. Tuy nhiên cần phải hiểu rằng SWIFT là một trong các phương tiện truyền tin TTQT chính, bên cạnh đó vẫn phải sử dụng các phương tiện truyền tin khác. Ví dụ cho dễ hiểu như: khi chuyển bộ chứng từ TTQT vẫn phải sử dụng thư tín mà không thể dùng SWIFT để chuyển được. Hoặc khi chuyển một bức điện tới ngân hàng ở Myanma ta không thể dùng SWIFT mà phải sử dụng TELEX vì các ngân hàng ở Myanma chưa tham gia SWIFT. 7.2. Những điểm yếu: - Để sử dụng hệ thống SWIFT đòi hỏi phải trang bị máy móc thiết bị và công nghệ đủ mạnh và đồng bộ, thường xuyên phải tốn chi phí cập nhật phần mềm mới. Đây là điểm yếu của các ngân hàng thương mại Việt Nam, song trong xu thế hội nhập các ngân hàng thương mại Việt Nam phải chủ động nâng cấp, trang bị công nghệ ngân hàng tiên tiến có như thế mới có thể triển khai và ứng dụng các dịch vụ ngân hàng hiện đại dựa trên nền tảng công nghệ. - Để có thể kết nối trực tiếp vào hệ thống SWIFT từ các chi nhánh của ngân hàng đòi hỏi phải xây dựng và cập nhật thường xuyên các chương trình phần mềm chuyển đổi và quản lý dữ liệu cho toàn hệ thống ngân hàng trên cơ sở dữ liệu tập trung và trực tuyến tạo điều kiện xử lý và khai thác hiệu quả thông tin. - Yêu cầu về mạng truyền thông là yếu tố cực kỳ quan trọng, các giao dịch được khởi tạo không thể được thực hiện, truyền đi nếu đường truyền gặp sự cố sẽ ảnh hưởng rất lớn đến chất lượng của hoạt động dịch vụ ngân hàng, nghiêm trọng hơn có thể gây ra các rủi ro ảnh hưởng đến uy tín cho ngân hàng trong đó có hoạt động TTQT như thanh toán chậm trễ, gây lỗi cho các điện được chuyển đổi. - Để sử dụng điện SWIFT được rộng rãi chiếm tỷ trọng lớn, đòi hỏi các ngân hàng thương mại Việt Nam phải thiết lập được cho mình một mạng lưới các ngân hàng đại lý rộng khắp trên toàn thế giới nhằm tạo lập các quan hệ SWIFTCODE và mở rộng vị thế và uy tín
  37. ngân hàng. Đây là yêu cầu ra trong xu thế hội nhập và mở rộng quan hệ hợp tác quốc tế. - Đối với các ngân hàng chưa có quan hệ SWIFTCODE, BIC Code đòi hỏi các giao dịch được thực hiện phải được tính “testkey” trước đây công đoạn tính mã khoá testkey rất thủ công, các chi nhánh thông tin về phòng quan hệ quốc tế của các ngân hàng bằng fax, scan, hay chuyển phát nhanh và ngược lại, do đó không đảm bảo tính an toàn, bảo mật và nhanh chóng. Vì vậy, yêu cầu đặt ra là xây dựng một chương trình Testkey on line trên toàn hệ thống ngân hàng thương mại Việt Nam đảm bảo tính an toàn, bảo mật, chính xác và nhanh chóng.
  38. TÀI LIỆU THAM KHẢO - Ngân hàng Đầu tư và Phát triển Việt Nam (01/09/2001), Quy trình Thanh toán quốc tế. - Ngân hàng Đầu tư và Phát triển Việt Nam (01/07/2005), Quy định Thanh toán quốc tế. Tiếng Anh - SWIFT Standard (Standard Release Guide 2003), Category 1 Customer Payment & Cheques. - SWIFT Standard (Standard Release Guide 2003), Category 4 Collecttion & Cash Letters. - SWIFT Standard (Standard Release Guide 2003), Category 7 Documentary Credits & Guarantees. - SWIFT Standard (Standard Release Guide 2003), Category 9 Cash - Management & Customer Status. - SWIFT Standard (Standard Release Guide 2003), Category n Common Group - Messages. Internet